Kim Cang

26 Tháng Tám 201112:00 SA(Xem: 26844)
Kim Cang

 Kệ rằng:

Đạo phật cùng người chẳng bao xa!

Làm lành nên Phật, dữ làm ma.

Quí tiện đua theo dường danh lợi,

Nào ai thoát khỏi chốn Diệm la?

Người đời chẳng khác ngựa qua cửa sổ,

Thiểu niên rồi trẻ lại thấy già.

Chi cho bằng an phận đươc nhẫn nhục.

Ắt là tảo ngộ chốn Di Đà.

 ***

Thọ truyền giáo đạo Thích Ca,

Màu thiền tấm ấn phép nhà nhiệm thay!

Chim cò bay trong rừng sương tuyết,

Người vô tình chẳng biết dấu xưa.

 Một thuyền vượt biển vô biên,

Phàm trần thoát khỏi về miền Tây Phương.

Sự chẳng toan dọn đào giếng trước,

Đến cơn nghèo khát nước tầm đâu?

 Những lời điên đảo dối nhau,

Thiệt vàng thì ít giả thau thì nhiều.

Công đã liều ăn sương nằm tuyết,

Lên non tầm cho biết ky nam.

Việc chẳng làm than tân rằng khó,

Của ở đời ai khó cho không?

 Phật Trời há dễ tư công,

Không tu mà đặng cho không máy thiền.

Đạo Thánh hiền tầm đâu cho khó,

Ai dạy mình, mình lại dạy ai! 

 Ngọc nhà luống bỏ chẳng mài,

Tiểu tâm vì bởi cậy tài nên xa.

Giác suy xa ấy là người quân tử,

Xét phận mình ngày đủ ba phen.

Ai đốt đèn nhà ta đặng tỏ,

Kẻ gian tà đâu dám phạm xâm.

Loài cầm thú còn hay biết ổ,

Huống chi người nở bỏ tứ ân!

 Trách ai bụng lượng vô phân,

Để theo tranh tụng giành phần thịt kia.

Trông chi chì, vàng mười thì bỏ,

Chim ham mồi mắc khó nào hay.

 Ai trau công quả cho dày,

Đất bùn có thuở mọc rày hoa sen.

Đất gần miền gắng công chèo lấy,

Dại chi sao ngồi vậy chẳng toan.

 Tuy là tấn dị thối nan,

Trượng phu kia hỡi cho bền chí trai.

Khối sắt mài nên kim mới kể,

Chí anh hùng lấp bể làm non.

 Sắt kia vào lửa mẻ mòn,

Gan vàng tiết đá lòng son mấy người?

Sự nực cười nước kia chảy ngược,

Bạch hạt bay trượng trước nhành hoa.

 Trống kia chặp bảy chặp ba,

Trực nhìn dường thấy Bửu tòa Thiên thai.

Chỉn lạ hay trâu cày đáy biển,

Người đã cười hả miệng cùng nhau.

Màu thiền đắc ý cũng mầu,

Còn hơn chen chúc công hầu vương khanh.

Những đua tranh tiền ma gạo quỉ,

Của ở đời ai có cho không.

 Tây phương trước mặt chẳng bao xa,

Cách nhau vì bởi ái hà biển mê.

Những che khen cười nhau lộn xạo,

Gẫm ở mình ngay thảo nổi chi!

 Dốc lòng niệm chữ từ bi,

Lấy dao trí huệ cắt đi cho rồi.

Bởi dây dùng không bề khó dứt,

Sao trách rằng Trời đất không binh.

 Chớ khen những đảng không minh,

Ở mình lại giác lấy mình rằng khôn.

Chốn hải môn ra vào ngày tháng.

Giữ lái lèo tốt gió thì hơn.

 Hay buôn mới gọi nhiều tiền,

Điên đầu cũng gọi rằng người làm chi!

Chốn hải môn lánh mình khỏi trước,

Giả chơn ai đặng nước hoa sen.

 Có công hay học thì nên,

Chẳng cầu ai dễ đem quyền tới cho.

 Ham ăn chim mới mắc dò,

Lưới mê thoát khỏi ngoài vòng mới ngoan.

Quyết lìu mình giồi mài trí huệ,

Kẻo bán đồ nhi phế uổng công.

 Rối tơ khéo gở thì xong,

Lọc lừa thời đặng nước trong khó gì!

Há dạy chi nên ai phải dạy,

Tới cửa thiền thì thấy Đế vương.

 Kim Cang

 Kệ rằng:

Thủy thanh nguyệt ảnh hiện tự nhiên,

Tảo tận trần ai mãn thế duyên.

Thủy nguyệt quang âm minh cảnh chiếu

Danh như bổn tánh đoạn tiền khiên.

 ***

Ngâm thôi vào chốn tam quyền,

Nhã quang định tánh vào thiền sửa sang.

Lấp ba đường để thông một cửa,

Thuyền ra vời mặc thửa rộng khơi.

 Sớm thời Nam thiệm dạo chơi,

Tối về Trước quốc gần đời Ma ha.

Chốn lâm tuyền ngao du cũng toại,

Gẫm hai đường cũng toại vừa hai.

 Bạn thuyền bát nhã hôm nay.

Chơi hoa lấp kiểng gồi mài kim cang.

 Ba xe lửa đỏ rõ ràng,

Nước nhà một gáo tưới tan tư bề.

 Nhà gìn đề mật Ma ha,

Phòng khi luyện được để hòa làm viên.

Chiếc đơn điền dõi miền địa hậu.

Cõi vô thường còn để trên không.

 Vào non ngũ uẩn mới thông,

Luyện nên linh dược thì lòng mới an.

Việc hành thoàn kể đâu cho xiết,

Người vô tình chẳng biết chèo bơi.

 Làm nguời cho biết sự đời,

Tu nhơn tích đức để lời thảo ngay.

 Voi kia ai mượn thày lay,

Bởi mình lại khiến lấy dây buộc mình.

Chốn quang minh về Ta hay chọn,

Muốn tầm hiền hãy chọn người khôn.

 Cùng nhau biển ái nguồn ân,

Vui chi một phút lửa phàm cháy ram.

Đầu đuôi xét lại cho cam,

Trầm hương thì bỏ son chàm lại đeo.

 Vì bỉnh thoại nói rằng thời dễ,

Gẫm trong mình như thể cá ươn.

 Trẻ thơ vụn lượng khá thương,

Có đâu biết sự chiến trường chông gai.

 Mặc ý ai khôn ngoan chèo lấy,

Tới liên trì thì thấy hoa sen 

 Sãi mùa lỡ dở tèm hem,

Chớ nên sức học dám chen khoe mình.

 Nôm na lộn lạo sử kinh,

Dám chê thượng trí dám khinh sãi mùa.

 Nên hư chẳng tốn tiền mua,

Câu nào đắc ý thì chua trong lòng.

 

 Thập thủ liên huờn thi. (1)

Riêng chiếm non Bồng một cảnh Tiên,

Tu trì phép đạo khác màu thiền.

Nước kinh rửa sạch lòng trần tục,

Phù Phật đành dưng kẻ thiện duyên.

(1) Nhiều người cho rằng mười hai liên huờn này là của Cậu Hai Lãnh thường gọi là cậu Hai Gò sặc làm. Nhưng xét lại với câu”Công ơn đạo đức sánh Trùm che” thì chỉ có Đức Phật Thầy mới dám sánh như thế. Hơn nữa chỉ có Đức Phật Thầy mới được “cỏ cây trên dưới đua chào rước; thú vật cha con thấy sợ e” Hoặc giả Cậu Hai Lãnh thừa sứ mạng của Đức Phật Thầy chép ra rồi người ta thấy vậy lầm nhận Cậu hai Gò Sặc là tác giả đó chăng?

Sáu ngả quỉ tăng nhiều chỉ bảo,

Ba đường tội phước khắp răn truyền.

Từ bi đã có lòng siêu độ,

Biển khổ sông mê thấy những phiền!

 

Thấy những phiền cho cuộc ở đời,

Xa tầm non núi một phương Trời.

Hoa thơm trước mặt thơm tho nực,

Thú dữ bên mình nhả nhớn chơi.

Nghiêng chén hải lan vui chốn chốn,

Cum cây trăng Sở dạo nơi nơi.

Quên năm Giáp tý năm nào cả,

Luyện thuốc linh đơn tế độ người.

Độ người thẳng tới cõi Thiên thai,

Chẳng nhuộm màu đời có mấy ai?

Giày cỏ đến lui Trời đất rộng,

Ao sen xài xạc núi sông dài.

Kiểng vui ý hiệp son giồi phấn.

Thú lạ tình ưa đá chẳng phai.

Nghiêng ngửa cội tòng nghe tiếng gió,

Dọc ngang mặc thích thế không hai.

 

Thế không hai có bực người lành,

Trên đảnh mình ngâm chữ thái bình.

Một tấm lòng nhàn mây sắc trắng,

Trăm đường tục lợi nước màu xanh.

Dạy đời hằng giữ câu vi thiện,

Tưởng đạo vui theo dạ chí thành.

Cửa Phật tau giồi công đức lớn,

Ngâm tầm mùi đạo rất tinh minh.

Đao rất tinh minh có dễ đâu,

Một thầy dạy biết đạo kia mầu.

Tụng kinh lạy Phật trừ loài dữ,

Niệm chú thư phù trị bịnh đau.

Dụng phép về Tây nương chiếc dép.

Cất thân qua biển cởi cây lau.

Hòa Nam đã thấu công phu nọ,

Nên Phật Mâu ni tế ngõ hầu...

 

Ngõ hầu trở lại chốn Trời nghe,

Thong thả tình dầu uống nước khê.

Mặt ẩn công danh dường dép sút,

Mắt nhìn phú quới tợ mây che.

Cỏ cây trên dưới đua chào rước,

Thú vật cha con thảy sợ e.

Miệng động ra tay sôi nấu đá,

Phật Tiên nào biết tấm lòng nghe.

 

Lòng nghe muốn ở đạo tu non,

Rảnh việc nào lo nỗi mất còn.

Kiểng vật có Trời dành sửa dọn,

Giang san nhiều chỗ tính vuông tròn.

Giàu sang cửa tía càng thêm bực,

Cây trái rừng xanh gẫm rất ngon.

Đến chỗ đều vui ai rõ đặng,

Bốn mùa phơi phới phấn giồi son.

 

Giồi son giồi phấn tốt chi đây!

Đâu dám khoe cùng thú vị này.

Niệm chữ Di Đà thình dạ chánh,

Soi gương trí huệ cứu người ngay.

Bạn cùng nhựt nguyệt vui mùi đạo,

Dạo khắp san khê thỏa dạ Thầy. (1)

Ca khúc huỳnh lương thêm khoái khoái,

Trong đời tiền bạc chẳng thò tay.

 

Thò tay lần đếm chuổi Bồ đề,

Chẳng biết cuộc đời gẫm ngỡ quê.

Nong nả non Thần giồi luyện phép,

Náu nương cửa Thánh sửa sang nghề.

Giấy tinh đốt cứu người đau đớn,

Nước lã phun lành kẻ ủ ê.

Linh nghiệm hạ trần ai chẳng kính?

Công ơn đạo đức sánh trùm che.

 

Đức sánh trùm che bực Thánh Hiền,

Đạo mầu nghĩa nhiệm tấm lòng siêng.

Lánh nơi thành thì tình đời trải,

Gặp lúc thái bình giấc ngủ yên.

Lăng líu tiếng chim kêu náo nức,

Rỡ ràng hoa hội trổ Tiên Thiên.

Trân trân danh lợi cười ai mến,

Riêng chiếm non bồng một cảnh Tiên.

Dọc câu này đủ thấy là lời của Đức Phật Thầy rồi.

Giảng xưa về Đức Phật Thầy

 Vô Danh

 Ngồi buồn tưởng lại lời Thầy.

Hồi năm Kỷ dậu Đông Tây nhộn nhàng.

 Lúc đương dịch bắt muôn ngàn,

Thiên hạ sảng hoàng làng xóm thất kinh.

 Trời xui ách nuốc thình lình,

Thầy thấy động tình quyết độ cho an.

 Cứu trong bá tánh lâm nàn,

Khi ấy Thầy xuống tại làng Tòng sơn.

 Xóm làng chưa rõ nguồn cơn,

Thiên hạ dân chúng giả chơn khó tường.

 Động lòng Thầy mới chạnh thương,

Cứu người dương thế tai ương trong đời.

 Ai mà bị chứng thiên thời,

Đem vào Thầy độ vậy thời cũng yên.

 Phù linh hay tợ thuốc Tiên,

Bịnh chi Thầy cũng độ yên muôn ngàn.

 Hết phù Thầy bước lại bàn,

Thỉnh bông cúng Phật chưn nhan làm phù.

 Bốn mùa Đông, Hạ, Xuân, Thu,.

Gần xa đều tới thỉnh phù độ thân

 Thầy ngồi lời mới tỏ phân,

Cứu trong thiên hạ khỏi phần gian nan.

 Độ người bịnh hoạn muôn ngàn,

Bông hoa cùng giấy, chưn nhang làm phù.

 Sau Ta chịu chữ lao tù,

Nói cho bá tánh trước sau ghi lời.

 Xóm làng nghe nói rụng rời,

Lẽ nào Thầy lại chịu đời gian nan.

 Tiếng Thầy đồn nức bốn phang,

Siểng ho cổ xạ muôn ngàn bịnh nhơn.

 Điên cuồng chí những bịnh đơn,

Bịnh hậu thổ huyết gặp cơn hội này;

 Mấy người noi gốc làm Thầy,

Trùng tang thằng Bố lại Thầy xin cho.

Gặp Thầy thiên hạ hết lo,

Trong các chứng bịnh siểng ho phung cùi.

 Rùng rùng bá tánh tới lui,

Về chùa sư Nhựt ở thời hôm mai.

 Dặn cùng già trẻ gái trai,

Giữ lòng niệm Phật lâu dài đừng quên.

 Thảo ngay nhơn nghĩa cho bền,

Thờ cha kính mẹ tưởng trên Phật Trời.

 Nói cho lớn nhỏ ghi lời.

Nhứt tâm niệm Phật, Phật Trời độ cho.

 Giàu nghèo chưa chắc mà lo,

Giữ lòng niệm Phật, Phật cho coi đời.

 Di đà sau chữ mựa rời,

Gắng lòng tụng niệm đừng dời đổi thay.

 Quan âm Bồ tát đừng phai,

Thường hành bình đẳng thấu ngoài Tây Phương.

 Người lành Trời Phật yêu thương,

Lâm chung Phật độ chỉ đường về Tây.

 Bịnh nhơn đem tới đông vầy,

Kêu la than khóc lay Thầy cứu sanh.

 Thầy đương bày tỏ ngọn ngành,

Bịnh nhơn than khóc động tình Thầy thương.

 Vội vàng liền thỉnh chưn hương,

Để vào tô nước giải đường quỉ ma.

 Bịnh nằm đang khóc đang la,

Phù Thầy phun giải bịnh mà như không.

 Thầy ra dạy khắp Tây Đông,

Chỗ nào có bịnh nằm trông Phật Thầy.

 Đau lâu bịnh ốm vóc gầy,

Người thời phù thủng mặt mài tay chưn.

 Kẻ thời lớn bụng eo lưng,

Kẻ thời đau cổ trặc chân nhức đầu.

 Người thời đau bụng đau hầu,

Phù Thầy phun giải đau đau cũng lành.

 Ai ai đều cũng kỉnh thành,

Chẳng phen thuốc Phật đã thành phép Tiên.

 Muôn ngàn thiên hạ đều kiêng,

Đau chẳng tốn tiền mà mạnh như xưa.

 Dầm Trời thiên hạ như mưa,

Ban mai đến tối phát chưa rồi bùa.

 Người đi đến trước vô chùa,

Mấy người tới trể lạy đùa ngoài sân.

 Kẻ lui người tới rần rần,

Hương trà lễ vật cúng dâng ồn ào.

 Tro nhang đốt chẳng biết bao,

Một đôi ba chậu thỉnh sao đủ rày.

 Giấy vàng rọc nhỏ ngón tay,

Thầy ngồi tưởng Phật phát rày sau lưng.

 Mấy người cố ý mau chưn,

Thỉnh rồi ra khỏi xây lưng trở vào.

 Chen vai lộn lạo biết nào,

Phù Thầy đang phát lòn vào thỉnh đi.

 Thầy ngồi tưởng Phật từ bi,

Nói rằng bá tánh ham chi cho nhiều.

 Lòng thành một mãy cũng siêu,

Mình muốn cho nhiều người khác thì không.

 Bởi vì bá tánh rất đông,

Kẻ thời thỉnh đặng người trông tối ngày.

 Linh thời một lá cùng hai,

Mấy người chậm trể tối ngày về không.

Phật Trời đâu có tư công,

Cây nhang cũng độ chẳng trông của nhiều.

 Bạc vàng Phật cũng chẳng yêu,

Lòng lành một mãy cũng siêu việc mình.

 Nói cho bá tánh tỏ tình.

Mấy người tới số Thầy xin đặng nào.

 Muôn ngàn thiên hạ biết bao,

Đau căn Thầy độ bịnh nào cũng an.

 Tiếng đồn thấu tới tai quan,

Bắt Thầy về tỉnh Ang giang châu thành.

 Lúc này Thầy chịu nhọc nhành,

Ở nơi Dũ lý như thành Văn vương.

 Ngày nay bá tánh mới tường,

Lời Thầy ghi trước mọi đường chẳng sai.

 Cám thương mấy chú đội cai,

Canh giờ Thầy muốn ra ngoài như chơi.

 Chẳng qua hệ số ở Trời,

Khiến quan chủ tỉnh tha thời Thầy ra.

 Nạn nghèo lúc ấy mới qua,

Thầy về nương ngụ tại mà Tây An.

 Cơn buồn Thầy mới thở than,

Thương sau thiên hạ nhiều đường khổ thay!

 Thân thầy đâu quản đắng cay,

Vì thương bá tánh chịu rày gian nan.

 Vò đầu chắt lưỡi thở than,

Việc đời đã đến gắng toan mựa chầy.

 Ắt là cơ nghiệp về Tây,

Như vầy nhà nước sau đây khổ nhiều.

 Chúng sanh tua nhớ mấy điều,

Lời Thầy ghi trước làm nêu để đời.

 Tam kỳ lục tỉnh các nơi,

Khai kinh đắp lộ thay đời trị dân.

 Thuế thâu vô lượng vô phân,

Chưn ban vạn vật không cần món chi;

 Bất kỳ dưới nước đường đi,

Hẹ hành cải ớt vật gì cũng thâu.

 Trên rừng non núi đâu đâu,

Dưới sông ngoài biển bất câu chỗ nào.

 Lời Thầy phân nói thấp cao,

Còn lúc cựu trào chưa thấy mặt Tây.

 Ngày sau tàu chạy trên mây,

Dưới sông thương mãi ghe đi khỏi chèo.

 Thung dung bất luận giàu nghèo,

Dưới sông tàu rước trên bờ xe đưa

 Nam thanh nữ tú đều ưa,

Đường đi ngàn dậm xe đưa vài giờ.

 Chúng sanh nào rõ tri cơ,

Lời Thầy nói trước tình cờ thinh không.

 Bây giờ nói chuyện minh mông,

Việc nào chưa đến cũng không thấy gì.

 Chúng sanh nhớ lời Thầy ghi,

Ngày sau may vải, chỉ thì khỏi se.

 Ai ai đều những không dè,

Việc đời Thầy nói lắng nghe không cùng.

 Ngày sau vùi lửa nóc mùng,

Đàn bà sung sướng vô cùng thảnh thơi.

 Giàu thời tột bực ăn chơi,

Nghèo thời cùng khổ mãn đời khó khăn.

 Làm cầu đắp lộ thẳng băng,

Trong thành ngoài chợ lăng xăng phố lầu.

 Nam, Tần hai nước tóm thâu,

Ngày sau hai nước chịu sầu lâu năm.

 Sông dài cá lội biệt tăm,

Thầy thương bá tánh ngồi nằm không an.

 Vào ra thấy đá ngổng ngang,

Thầy kêu bá tánh xóm làng phân qua.

 Chỉ cho lớn nhỏ trẻ già,

Đá này bá tánh sau mà cũng ăn.

 Bây giờ rừng bụi tứ giăng,

Ngày sau có lộ thẳng băng giữa đồng.

 Thầy phân mấy lẽ chí công.

Sau dầu mấy chuyện có không thời tường.

 Thảo ngay cứ thẳng một đường,

Thiên cơ Trời định lẻ thường chớ mong.

 Sau đừng phát mộ thinh không,

Ắt mang nạn khổ chẳng trông thấy đời.

 Nên hư muôn việc ở Trời,

Mai chiều cũng đến việc đời gần đây.

 Chốn này non núi cỏ cây,

Thoàn tàu sau chạy vô đây sá gì.

 Lời xưa Thầy dặn nhớ ghi,

Trẻ già trai gái đều thì ngóng trông.

 Thất sơn làng xóm rất đông,

Có thành có thị có sông giữa đồng.

 Nói cho lớn nhỏ ghi lòng,

Ngày sau mới biết rõ trong sự tình.

 Giữ lời Thầy dạy đinh ninh,

Hết Tây rồi lại thiệt tình tới U.

 Lành thời niệm Phật công phu,

Dữ thời chịu chữ lao tù hổ ngươi.

 Lúa đổi một giạ hai người,

Bây giờ Thầy nói chuyện đời như không.

 Chúng sanh nào có rõ thông,

Phật Trời không tưởng mà trông đến đời.

 Dặn trong bá tánh ghi lời,

Chừng đến việc đời Châu đốc huyết lưu.

 Chúng sanh sao chẳng cần ưu,

Còn ham dục lợi còn cưu tranh điền.

 Lời Thầy xưa nói muôn thiên,

Nhắc sơ ít chuyện kẻo phiền lòng đây.

 Từ Thầy chịu lịnh về Tây,

Có sắc Thiên tào triệu Thầy qui lai.

 Chúng sanh tối mắt điếc tai,

Lời Thầy ghi trước có sai đâu là...

 Không tin hỏi mấy ông già,

Kể phân mấy chuyện phải mà cùng chăng.

 Hay là kiếm chuyện nói nhăng,

Thấy rồi đặt để lăng xăng ngạo đời.

 Lòng tôi kỉnh Phật trong Trời.

Dám đâu mà lại buông lời vọng ngôn.

 Việc đời như mõ đánh vồn,

Thiện nam tín nữ ai khôn giữ mình.

 Khuyên trong lớn nhỏ tỏ tình,

Mấy lời Thầy dặn đừng khinh ngạo đời.

 Nhớ xưa Hiền Thánh truyền lời,

Nhơn vô viễn lự việc đời khó phân.

 Khuyên cùng lớn nhỏ cho cần,

Tưởng mà niệm Phật giữ lần thân ta.

 Mặc tình trai gái trẻ già,

Tùy lòng niệm Phật đừng mà cười chê.

 

 Sám Giảng về Đức Cố Quản

 

 Của ông Vương-Thông

 Một môn đệ của Cậu Hai Nhu

 

 Nam trào kế trị quốc gia,

Nhơn dân lạc nghiệp gần xa phục tùng.

 Xét xem lục tỉnh Nam Trung,

Quan quân hiếm kẻ anh hùng trí tri.

 Thời Trời vận khiến nước suy,

Phật cho Thầy xuống để ghi mấy lời.

 Khiến nên thiên hạ đổi dời,

Nhơn dân đồ khổ trong thời thiết tha.

 Kế năm Kỷ dậu Thầy ra,

Lúc đương dịch bắt người ta muôn ngàn.

 Nhờ Thầy độ giải dân an,

Phật còn thương chúng sao quan bắt Thầy.

 Gian nan luống chịu bấy chầy,

Nhờ Phật độ Thầy khiến bụng quan tha.

 Thầy về chùa chánh ở mà,

Gần xa bổn đạo vào ra thăm Thầy.

 Khi vui Thầy mới tỏ bày,

Để sau bổn đạo biết Thầy dở hay.

 Nước Nam sau có giặc Tây,

Nhơn dân đồ khổ lời Thầy ghi cho.

 Giàu nghèo chớ chắc đừng lo,

Chí tâm niệm Phật Trời cho thấy đời.

 Hạ Nguơn nay đã biến dời,

Tây qua sửa dọn thay đời Đế vương.

 Chư hầu bá quốc thông thương,

Mai sau gặp thấy Đế vương mới hòa.

 Phật ra ngự chốn non tòa,

Mấy lời Thầy dạy ghi mà đừng quên.

 Rồi đây biết lẽ hư nên,

Ai tin giữ đặng tâm bền thốt ra.

 Kế năm Mậu ngũ Tây qua,

Đánh phá thành lũy nước nhà tang hoang.

 Nam kỳ hiếm kẻ trung cang,

Ra mà cự dịch thát oan dân Trời.

 Tây dương ỷ thế ỷ tài,

Tàu đồng súng sắt bắn hoài phải thua.

 Kẻ lên trên núi cất chùa,

Người ra làm mộ đánh đùa chẳng dung.

 Nước Nam hiếm kẻ anh hùng,

Nghề văn nghiệp võ trí trung kiệt hào.

 Các quan lập trận đề đao,

 Đánh dư tăm trận, trận nào cũng thua.

 Dốc lòng trả nợ ngay vua,

Thời Trời vận khiến chịu thua lai hàng.

 Tây dương thành lũy sửa sang,

Khai kinh đắp lộ chiêu an dân Trời.

 Nam suy Tây đặng thạnh thời,

Tại lẽ ở đời kiến việc hư nên.

 An Nam Khách trú Cao mên,

Làm xâu đóng thuế hư nên mặc tình.

 Nghĩ xưa hồi thuở triều Minh,

Bắt cha chém đạo động tình nhơn dân.

 Minh quân đại đức đại ân,

Cớ sao đày Phật cất phần coi chim.

 Bây giờ nghỉ lại các điềm,

Tây qua lấy nước giận hiềm chi ai.

 Điềm Trời ách nước mang tai,

Bá quan dân võ trong ngoài gian nan.

 Nhơn dân đói rách cơ hàn,

Biết làm sao đặng cho toàn hiển vinh.

 Bây giờ đến lúc gập ghình,

Giặc thời lấy nước lánh mình đi đâu.

 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . ..

 Để cho Trời Phật định phân,

Làm tôi phải trả nghĩa nhân cho toàn.

 Quán Ngài tại tổng An lương,

Trong làng Thạnh mỹ bốn phương phục tùng.

 Khăng khăng hai chữ hiếu trung,

Tờ ra chiêu mộ anh hùng các nơi.

 Ai ai cũng ở giữa Trời,

Nghe Ngài chiêu mộ vưng lời thảo ngay.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . . . . . . .. . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . .. . . . . .. . . . . . . .

 Anh hùng xuất trận đề đao,

Ngay vua sống thác quản bao thân này.

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .. .

Sống thời làm tướng thác nay thành thần.

 Lẽ Trời nay đã định phân,

Dầu chẳng thành thần, Phật rước về Tây.

 Giặc vô bốn phía phủ vây,

Rập bô nó bắn gãy cây hư đồn.

 Đội cai thất vía kinh hồn,

Đâm đầu mà chạy lũy đồn tan hoang.

 Lao xao dân lộn với quan,

Kẻ chạy về làng người lội xuống sông.

 Con kêu mẹ sợ quên bồng,

Tai nghe súng bắn vợ chồng bôn phi.

 Trời xui Tây thạnh Nam suy,

Biết làm sao đặng phục qui Nam trào.

 . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

 Bây giờ nhớ đến lời Thầy,

Nhứt nhơn cư hiểm nạn Tây nan tầm.

 Khen trong nam nữ đồng tâm,

Làm lành đừng dữ họa thâm đến mình.

 Ngài về chiếm cứ Láng Linh,

Ở mà ẩn sĩ một mình tu thân.

 Thời Trời còn khiến nhơn dân,

Nghe Ngài về đó rần rần đến thăm.

 Chịu bề khổ hạnh mấy năm,

Khai kinh mở ruộng nhất tâm tu hành.

 Thân Ngài chẳng quản rách lành,

Ở trong Láng đó lều tranh chờ thời.

 Người trung đứng giư mặt Trời,

Đắng cay bao quản vận thời chớ than.

 Trích cò nghe ác la vang,

Đậu khoai nuôi bữa bắp rang đỡ lòng.

 Vận còn Trời khiến long đong,

Thiên hạ đồng lòng tiếng dậy đồn linh.

 Thấu tai về đến triều đình,

Chiếu vua sai khiến biểu mình cầm binh.

 Như vầy trọn điệu trung trinh,

Ngưỡng vâng sắc chỉ chiêu binh cầm quyền.

 Khuyên trong bá tánh chư viên,

Lòng trung đặng một màu thiền hòa hai.

 Ngồi trong có lịnh qui tai,

Cớ sao chẳng có một ai trả lời.

 Thình lình chúng sĩ bồi hồi,

Quân báo Tây nó tới lui cưa cầu.

 Chư viên lớn nhỏ ứng hầu,

Ra mà cự địch trịnh hầu bắn tan.

 Trẻ giá chồng vợ khóc than,

Đem nhau mà chạy tan hoang dân Trời.

Ngài còn ghi dạ mấy lời,

Phút tan một trận dởi dời trải qua.

 Cậu còn dìu dắt lịnh bà,

Đem ra cho khỏi lánh mà lúc nguy.

 Thiên cơ trần thế bất tri,

Khiến nên phụ tử chia ly rã rời.

 Cậu Hai lời nguyện giữa Trời,

Thuận thời trở lại ẩn mà tu thân.

 Phong trần ai cũng phong trần,

Nương theo phước mẹ thảo thân cho toàn.

 Lịnh bà về cảnh Tây phang.

Cậu còn ở lại sửa sang chùa chiền.

 Thung dung một tấm lòng thiền,

Cầu mẹ về đặng cảnh Tiên thanh nhàn.

 Thường lệ măng mọc tre tàn,

Tiếng mình cũng gọi con quan đã rồi.

 Láng Linh Cậu ở lần hồi,

Lập chùa cầu Phật dạy thôi lời lành.

 Quản bao thân phận rách lành,

Lần hồi rẫy bái chữ nhành Thầy ghi.

 Như vầy mới trọn đạo nghì,

Ngay vui thảo chúa kính vì Thánh Tiên.

 Lời ghi sau có trường yên,

Đế đô tại núi Phật Tiên trị đời.

 Chư châu chư quận khắp nơi,

Đều vào làm hội ngôi Trời chiêu dân.

 Hội đồng thập bát quân thần,

Đều vâng lịnh Phật ân cần âu ca.

 Thuận đời thiên hạ hiền hòa,

Nhà lành con thảo thật thà lòng ngay.

 Bửu sơn bốn chữ tỏ bày,

Vốn của Phật Thầy ở tại Long Châu.

 Thiện nam tín nữ đâu đâu,

Ai có báu ấy đem hầu vưng vua.

 Bây giờ xin chớ hơn thua,

Thời lòng tưởng Phật tìm chùa tụng kinh.

 Có lòng bức trần cũng linh,

Chẳng cần có cốt có hình làm chi.

 Tánh Cậu một nết từ bi,

Bổn đạo nói gì chẳng thốt chẳng la.

 Ghi lời hiếu nghĩa mẹ cha.

Lạy Trời cầu Phật vậy mà sớm khuya.

 Nam mô Bồ tát chẳng lìa,

Nhứt tam niệm Phật xưa ghi định phần.

 Cậu còn ở giữa phong trần,

Đắng cay bao quản nhọc thân chi nài.

 Mặc dầu bữa bắp bữa khoai,

Bữa cơm bữa cháo nào ai biết lòng.

 Canh tràng lụy ứa ròng ròng,

Nhớ lời Thầy dạy ghi lòng đợi trông.

 Đêm khuya chong ngọn đèn hồng,

Ngồi mà tưởng Phật cầu lòng tỏ gương.

 Ngày ra nhắm ngó đường mương,

Bao nhiêu nước chảy đoạn trường bấy nhiêu.

 Lóng nghe gà đã gáy chiều,

Ngùi ngùi tưởng sự chín chiều ruột đau.

 Thân cậu như cá trong sao,

Nằm co trong giếng khó khăn vậy mà.

 Công lao tiêu tứ thiết tha,

Chí tâm mà đợi lịnh cha xưa truyền.

 Luận bày tỏ sự bá niên,

Minh tâm đặt để lưu truyền hậu lai.

 

 Kỷ-dậu niên, ngũ ngoạt, thập ngũ nhựt.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn