Từ trang 118 đến trang 128

07 Tháng Mười Hai 201112:00 SA(Xem: 4417)
Từ trang 118 đến trang 128



BẾ-BỒNG

 "Thế-gian sẽ biết Thánh tài,

 Bế-bồng con dại hát bài khải ca."

 (02.ThuDaCuoi-343-V1-080)

 

BẾ CHÍ

 "Thể-thống Thần Tiên kiên bế chí,

 Tương-đồng sanh-chúng gội ma-ha."

 (02.ĐeChonĐatBac-264-V1-228)

 

BẾ CỬA

 "Tăng-sĩ quyết chùa , am bế cửa,

 Tuốt gươm vàng lên ngựa xông-pha."

 (07.TangthisiVietChau-431-V1-013)

 

BẾ HỘ

 "Gia vô bế hộ im-lìm,

 Lập thành mối Đạo rõ điềm xưa kia."

 (01.ThienLyCa-201-V0-113)

 

 "Chất âm, thinh, sắc phi tiêu diệt,

 Bài phỏng liêm-gia bế hộ nguyên."

 (02.xhHuynhHHoa.B3.h-240-V1-006)

 

BỆ

 

BỆ-NGỌC

 "Ai muốn gần bệ-ngọc các lân,

 Thì phải rán lập thân nuôi chí."

 (01.ThienLyCa-204-V1-193)

 

 "Tạm đây ta mắc lui hài,

 Vì trên bệ-ngọc triệu rày hồi-qui."

 (02.TuGiaBonĐao-284-V1-010)

 

 "Lại dựa kề Bệ-Ngọc Các-Lân,

 Cảnh phú-quí nhờ ơn Phật-Tổ."

 (Q2.KDNK-057-V1-155)

 

 "Lại được gần Bệ-Ngọc Long-Xa,

 Coi chư-quốc tranh-giành châu-báu."

 (Q2.KDNK-058-V1-187)

 

BỆ-NGỌC CÁC-LÂN

 "Lại dựa kề Bệ-Ngọc Các-Lân,

 Cảnh phú-quí nhờ ơn Phật-Tổ."

 (Q2.KDNK-057-V1-155)

 

BỆ RỒNG

 "Thời buổi ấy vua ưa người Đạo,

 Bèn vào chầu tâu trước bệ rồng."

 (Q5.KT-121-V1-180)

 

BÊN

 

BÊN CHỒNG

 "Cơn nầy bố-thí cho xong,

 Để khi nhắm mắt bên chồng giành chia."

 (02.KGiauLPhuocThien-271-V1-028)

 

BÊN LẦU

 "Lòng những hiến thân mưu độc-lập,

 Nào hay tai-họa áp bên lầu."

 (08.TgSungBenLau-433-V1-004)

 

 "Bên lầu tiếng súng nổ vang tai,

 Trời đất phụ chi kẻ trí tài."

 (08.TgSungBenLau-433-V1-005)

 

 "TIẾNG SÚNG BÊN LẦU

 (08.TgSungBenLau-433-V2-000)

 

BÊN LƯNG

 "Thơ với phú Thần Tiên giáng bút,

 Bởi cơ trời đà thúc bên lưng."

 (02.ĐeChonĐatBac-266-V1-289)

 

 "Nuôi tằm ắt được nên tơ,

 Nếu ta làm phải phước hờ bên lưng."

 (02.TuGLgNhonNghia-329-V1-120)

 

BÊN MÌNH

 "Tỉnh say trong giấc mộng hoa,

 Mơ-màng cũng tưởng như ta bên mình."

 (02.TuGiaBonĐao-287-V1-078)

 

 "Để ma bịnh theo hờ bén gót,

 Thần chết kia ôm hót bên mình."

 (02.ThuDaCuoi-345-V1-134)

 

BÊN NHÀ

 "Đầu canh tiếng động bên nhà,

 Chờ ba canh một thì gà gáy tan."

 (02.TuThan-351-V1-035)

 

BÊN RỪNG

 "Gió hiu-hắt bên rừng quạnh-quẻ,

 Nhìn non-sông đượm vẻ tang-thương."

 (07.TuThan-432-V1-001)

 

 "Bên rừng tạm gởi thân cô quạnh,

 Nhìn thấy non-sông suối lệ trào."

 (08.RiengToi-435-V1-003)

 

BÊN TAI

 "Mắt nhìn ngoại-quốc thảm-thê,

 Nam-bang cảnh khổ cũng kề bên tai."

 (02.ĐeChonĐatBac-267-V1-307)

 

 "Tiếng sấm-sét bên tai xốc-xáo,

 Cả muôn người ngơ-ngáo hỏi-han."

 (02.SaĐec-300-V1-053)

 

 "Canh tràng thổn-thức đứng nằm,

 Phiền-ba xe ngựa ù-ầm bên tai."

 (02.ThuDaCuoi-341-V1-004)

 

 "Chuông linh giục-thúc bên tai,

 Chúc cầu thạnh-trị thới-lai xóm làng."

 (02.VLangMHĐ-244-V1-019)

 

BÊN TÀU

 "Có nhiều chệt khách Minh-hương,

 Đau lòng nhiều khúc thê-lương bên Tàu."

 (02.ĐeChonĐatBac-259-V1-078)

 

 "Dương-trần bụng dạ nhiều màu,

 Thấy cảnh bên Tàu sao chẳng nghĩ-suy."

 (Q1.SGKNĐ-028-V1-120)

 

 "Hát mà trong bụng xáo-xào,

 Nói chuyện bên Tàu máu đổ tuôn rơi."

 (Q1.SGKNĐ-047-V1-800)

 

BÊN THẦY

 "Điên đây vưng lịnh Phương Tây,

 Hầu hạ bên Thầy đặng cứu bá-gia."

 (Q1.SGKNĐ-049-V1-876)

 

 "Kể từ hầu hạ bên Thầy,

 Vào ra chầu-chực đài mây cũng gần."

 (Q3.SG-071-V1-091)

 

BỀN

 

BỀN CHÍ

 "Gội ơn Trời độ khỏi sai-lầm,

 Xin giúp chí bền, chí dục tâm."

 (01.ThienLyCa-202-V0-140)

 

 "Cho đó hiểu nhiều câu huyền-bí,

 Rán nghĩ-suy bền chí mới mầu."

 (01.ThienLyCa-204-V1-186)

 

 "Xét suy cho cạn cổ-kim,

 Hết tâm bền chí rạch tim xem nhìn."

 (02.ĐeChonĐatBac-263-V1-192)

 

 "Một phen nợ nước lâm đền,

 Đạo làm thần-tử cho bền chí trai."

 (0K.NoNuoc-457-V1-002)

 

 "Vậy ta nên làm việc thẳng ngay,

 Cứ bền chí có ngày thong-thả."

 (Q5.KT-132-V1-558)

 

BỀN GAN

 "Ai giàu có thung-dung thanh nhã,

 Ta lo đời sắt-đá bền gan."

 (02.DenLgNhonNghia-307-V1-085)

 

 "Đạo bè-bạn bất phân nhơn với ngã,

 Chữ nghĩa-tình sắt-đá mãi bền gan."

 (02.KhongBuonNgu-340-V1-063)

 

 "Bền gan chờ đợi ngày sum-hiệp,

 Gắng chí trông mong bữa tiệc khai."

 (02.TinhBanTGian-354-V1-077)

 

 "Muốn xem bốn chữ Long-Châu,

 Bền gan sắt-đá sồng-nâu tu-trì."

 (02.TuGiaBonĐao-286-V1-060)

 

 "Thân nầy đã ngấm trầm nhang,

 Vui câu bác-ái bền gan đợi chờ."

 (02.TuThan-351-V1-044)

 

 "Dặn lòng con hãy bền gan dạ,

 Sẵn dịp dân lành rõ Phật Tiên."

 (02.xhNgThTanXno.B2.h-309-V1-027)

 

 "Một năm qua bền gan không nao-núng,

 Dù thảo-lương thiếu túng chịu gian-nan."

 (09.KNRungChaLa-454-V1-010)

 

 "Dầu ai có bền gan sắt-đá,

 Cũng động lòng trước cảnh ngửa-nghiêng."

 (Q5.KT-118-V1-083)

 

BỀN LÒNG

 "Lúc áo-não cội thung lo-liệu,

 Gắng bền lòng bận-bịu vì ai."

 (01.ThienLyCa-206-V1-246)

 

 "Chặt dạ tinh-thần thêm mập khá,

 Bền lòng khí-lực tráng nguơn nhiên."

 (02.choHBoTHANH-314-V1-046)

 

 "Phải bền lòng chặt nẻo sắt đinh,

 Rán kiếm chữ bất sanh bất diệt."

 (02.DieuPhapQMinh-293-V1-095)

 

 "Tây-Phương Cực-Lạc Phật hằng-hà,

 Ta rán bền lòng Phật chẳng xa."

 (02.MRoĐaoMau-280-V1-010)

 

 "Nếu bền lòng vị-quả cao thăng,

 Chẳng chặt dạ bỏ lăn Phật Thánh."

 (02.SaĐec-299-V1-043)

 

 "Chốn Phật-đường rán trau đức-hạnh,

 Phải bền lòng mới rảnh trần-ai."

 (02.SaĐec-299-V1-046)

 

 "Đường đạo-lý chớ nên chán-nản,

 Hãy bền lòng tầm Phật trong tâm."

 (Q2.KDNK-065-V1-438)

 

 "Tuy nghèo dùng đỡ cháo rau,

 Bền lòng niệm Phật thì sau thanh-nhàn."

 (Q3.SG-081-V1-460)

 

 "Trong bổn-đạo cùng là sư-vãi,

 Rán bền lòng cho được hiền từ."

 (Q4.GMTK-102-V1-488)

 

BỀN VỮNG

 "Muốn Phật-Giáo từ đây bền vững,

 Đừng riêng lo lợi-dưỡng một mình."

 (Q5.KT-136-V1-671)

 

BẾN

 

BẾN BỜ

 "Tượng xưa dấu cũ còn mờ,

 Không lo tìm kiếm bến bờ mà nương."

 (02.DanDoBonDao-276-V1-044)

 

 "Nếu không, gặp cảnh bơ-vơ,

 Thuyền ghe chẳng có bến bờ cũng không."

 (02.TuGLgNhonNghia-327-V1-052)

 

BẾN GIÁC

 "Bến giác bờ mê, mê phải tránh,

 Ly-biệt hồng-trần hỡi ai ôi!"

 (02.ĐeChonĐatBac-265-V1-240)

 

 "Ma-ha thoàn nhỏ dọn rồi đa,

 Bước xuống đi qua bến giác mà."

 (02.ToiMongMot-234-V1-034)

 

 "Bây giờ Lão lại thúc đò,

 Đưa qua bến giác dông to tới nhà."

 (02.TuGLgNhonNghia-328-V1-058)

 

 "Bến giác Thần, Tiên mau chực sẵn,

 Bể mê phàm-tục phải cao bay."

 (02.ThanDoi-346-V1-011)

 

 "Tâm chay hậu-tấn rán tu thân,

 Bến giác chẳng xa cũng chẳng gần."

 (05.NhanĐoiThoiCo-406-V1-024)

 

 "Thả thuyền-từ bến-giác nâng-niu,

 Kẻ hiểu Đạo mau-mau bước xuống."

 (Q4.GMTK-111-V1-817)

 

BẾN-LỨC

 "Khỏi đây đến chỗ bộn-bề,

 Rõ-ràng Bến-Lức đã kề bên ghe."

 (Q1.SGKNĐ-038-V1-474)

 

BẾN NƯỚC

 "Chọn bến nước rủi may trong đục,

 Nếu chần-chờ lục-đục trễ chơn."

 (03.VongBhoaN-365-V1-019)

 

BẾN SÔNG

 "Thuyền bát-nhã ta cầm tay lái,

 Quyết đưa người khỏi bến sông mê."

 (02.DieuPhapQMinh-293-V1-114)

 

 "Xong cầu bờ giác bến sông mê,

 Thế-sự nhân-sanh hết nhún trề."

 (05.NhanĐoiThoiCo-407-V1-039)

 

BẾN-THÀNH

 "Bến-Thành đến đó đậu liền,

 Gặp hai thằng lính tra liền thuế thân."

 (Q1.SGKNĐ-039-V1-503)

 

BẾN-TRE

 "Chợ quê giảng-dạy đã xong,

 Thuyền-loan trực-chỉ đến rày Bến-Tre."

 (Q1.SGKNĐ-040-V1-550)

 

 "Dạo cùng khắp tỉnh Bến-Tre,

 Đủ bực thơ vè lìa lại Trà-Vinh."

 (Q1.SGKNĐ-040-V1-565)

 

BI

 

BI AI

 "Chợt ngó xuân sang xuân biết khóc,

 Đến thời Thiên-định lối bi ai!"

 (01.29ThangChap-224-V1-008)

 

 "Đêm vắng mà sao cảm quá dài,

 Văn-nhu lão trưởng tiếng bi-ai."

 (02.choThay3Than-254-V1-002)

 

 "Hò-hẹn Phật Tiên hiệp một ngày,

 Một ngày thế-giới khỏi bi-ai."

 (02.ĐauNam-232-V1-026)

 

 "Để đến việc thảm-thê, thê-thảm,

 Mắt phàm-trần tường-lãm bi-ai."

 (02.ĐeChonĐatBac-266-V1-285)

 

 "Lúc nầy thế-giới bi-ai,

 Chẳng nói vắn dài Phật nọ tức tâm."

 (Q1.SGKNĐ-032-V1-261)

 

BI-ĐỘNG

 "Bi-động từ-tâm gọi mấy lời,

 Chúng-sanh Nam Bắc lụy tuôn rơi."

 (01.LoChutCoHuyen-186-V1-025)

 

BI HIỆN

 "Lôi chất khai âm vô sắc thí,

 Ngại hồi bi hiện án tiền phi."

 (02.ĐeChonĐatBac-261-V1-124)

 

BI HOAN

 "Nhu hiền hòa nhược ắt thắng cang,

 Đời cùng Đạo bi hoan, ly hiệp."

 (02.NangThoCamTu-320-V1-104)

 

BI LY

 "Hồi đầu điểm Đạo chuyển phong cương,

 Háo-thắng bi ly đạo khổ tường."

 (02.xhHuynhHHoa.B5.h-241-V1-002)

 

BI-THỐNG

 "Ta kể sơ những điều bi-thống,

 Mẹ no cơm chật-chội khó-khăn."

 (Q5.KT-124-V1-289)

 

BỈ

 

BỈ-BẠC

 "Mặc tình nghe phải thì dùng,

 Chớ đừng bỉ-bạc kẻ Khùng làm chi."

 (02.VLangPhuAn-253-V1-056)

 

BỈ-BÀNG

 "Người sao lại bỉ-bàng tôm cá,

 Thức ăn thừa khiếp nỗi ném quăng."

 (02.BongHong-334-V1-015)

 

BỈ NGẠN

 "Hoạch thắng thiện-căn,

 Chí pháp bỉ ngạn."

 (04.CauChu.C10.han-394-V2-004)

 

 

BĨ CỰC

 "Xây-vần trời đất tiết thì,

 Hết cơn bĩ cực tới kỳ thới lai."

 (02.KGiauLPhuocThien-272-V1-046)

 

 "Nhẫn nhẫn cho rồi câu bĩ-cực,

 Thời lai sẽ được cảnh tiêu-dao."

 (03.MayĐToLong-364-V1-007)

 

 

BÍ DANH

 "Thiên ký Lạc-Hồng đắc ngũ niên,

 Sơn-Trung hồi giả bí danh tiên."

 (02.xhNgKyTran.B1.h-249-V1-002)

 

BÍ-HIỂM

 "Lam thất thanh chơn hà khuyết Đạo,

 Qui-hồi bí-hiểm trị nhơn-tâm."

 (02.xhHuynhHHoa.B1.h-238-V1-004)

 

 "Bí-hiểm cơ-huyền nơi diệu-lý,

 Nhiệm-mầu Phật-pháp chốn thần-thông."

 (0K.cho1ViSoTam-460-V1-003)

 

 "Chuyện huyền-cơ bí-hiểm cao-sâu,

 Hãy nghiệm xét hai đường tà chánh."

 (Q2.KDNK-065-V1-423)

 

BÍ KHUYẾT

 "Thanh tích cổ nhân tân cừ khí,

 Nghiên tòng bí khuyết bích-lư xa."

 (02.ĐeChonĐatBac-260-V1-112)

 

 "Thuấn-Nghiêu thọ thọ nguy duy hiển,

 Phật Lão hư không bí khuyết thầm."

 (02.xhHuynhHHoa.B1.x-238-V2-006)

 

BÍ-MẬT

 "Giục-thúc đạo-đồng kiến thúy-quyên,

 Chư bang điềm tĩnh sĩ danh hiền."

 (01.VenManBiMat-210-V1-001)

 

 "VÉN MÀN BÍ-MẬT

 (01.VenManBiMat-210-V2-000)

 

BỊ

 

BỊ GƯƠM

 "Kẻ gian-ác bị gươm ba thước,

 Nơi pháp-tràng trị kẻ hung-đồ."

 (Q2.KDNK-056-V1-113)

 

BỊ HẠI

 "Nếu tranh-đương ắt ta bị hại,

 Thêm sa-cơ lại bị xích-xiềng."

 (Q4.GMTK-104-V1-555)

 

BỊ LỬA

 "Ghét bạo chúa là xưa Trụ-Kiệt,

 Mất cơ-đồ lại bị lửa thiêu."

 (Q2.KDNK-056-V1-122)

 

 "Kẻ tà-gian sau bị lửa thiêu,

 Người tu-niệm sống đời thượng-cổ."

 (Q2.KDNK-061-V1-303)

 

BỊ TRỊ

 "Chỉ quân Tây thề một tiếng rằng:

 Thà cam chết, không làm dân bị trị."

 (09.TangcsBinhXuyen-452-V1-024)

 

BIA

 

BIA DANH

 "Đạo-đức bao nhiêu dám gọi Thần,

 Bia danh mô-phạm để lừa dân."

 (02.xhGiaoXoai.B1.x-235-V2-002)

 

BÌA

 

BÌA TRẮNG

 "Giấy vàng nay đã giá cao thăng,

 Bìa trắng lại chê vội bỏ lăn."

 (02.GiayVang-312-V1-002)

 

BÍCH

 

BÍCH-LƯ

 "Thanh tích cổ nhân tân cừ khí,

 Nghiên tòng bí khuyết bích-lư xa."

 (02.ĐeChonĐatBac-260-V1-112)

 

BIẾM

 

BIẾM ĐỜI

 "Khôn-ngoan nghe nói ngẩn-ngơ,

 Ngu-si thì tưởng như thơ biếm đời."

 (Q3.SG-080-V1-400)

 

 "Lời chơn-chánh hình như nói xỏ,

 Mà không không nào có biếm đời."

 (Q4.GMTK-100-V1-420)

 

BIẾM-NHẺ

 "Mặc ai biếm-nhẻ gần xa,

 Lòng ta ta biết ai mà mặc ai."

 (01.ThienLyCa-204-V1-199)

 

 "Dương-trần biếm-nhẻ gần xa,

 Nói quỉ nói tà đây cũng cam tâm."

 (Q1.SGKNĐ-027-V1-085)

 

 "Dương-trần nhiều kẻ ham sân,

 Cứ theo biếm-nhẻ xa gần người Điên."

 (Q1.SGKNĐ-031-V1-220)

 

 "Thần-Tiên mà chẳng ai hay,

 Cứ biếm-nhẻ hoài buồn dạ người xưa."

 (Q1.SGKNĐ-043-V1-662)

 

 "Lòng yêu dân chẳng trọng bạc tiền,

 Mà dương-thế cứ theo biếm-nhẻ."

 (Q2.KDNK-054-V1-060)


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn