Từ trang 1 đến trang 10

07 Tháng Mười Hai 201112:00 SA(Xem: 6123)
Từ trang 1 đến trang 10

 A

A-DI

 "Niệm chữ A-Di dẹp lòng sầu,

 Rán trì kinh-kệ hoặc mau lâu."

 (02.MRoĐaoMau-280-V1-005)

 

 "Sắc của A-Di là Phật-Tổ,

 Bốn chữ xuống trần chớ ở đâu?"

 (02.xhOngTUNG.B1.h-243-V1-003)

 

 "Động lòng của kẻ từ-bi,

 Tây-phương tấu lại A-Di Phật-Đà."

 (07.ĐiKhuyenNongVe-431-V1-006)

 

A-DI-ĐÀ

 "Nam-Mô A-Di-Đà Phật."

 (02.SaĐec-303-V1-173)

 

 "A-Di-Đà Phật từ-bi,

 Ở bên Thiên-Trước chứng tri lòng nầy."

 (Q1.SGKNĐ-030-V1-187)

 

 "NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 (Q1.SGKNĐ-050-V1-913)

 

 "A-Di-Đà nhìn xem khắp cõi,

 Đặng trông chờ mong-mỏi chúng-sanh."

 (Q2.KDNK-059-V1-213)

 

 "NAM-MÔ TAM-GIÁO QUI NGUƠN

 PHỔ-ĐỘ CHÚNG-SANH A-DI-ĐÀ PHẬT"

 (Q2.KDNK-066-V1-478)

 

 "NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 (Q3.SG-086-V1-613)

 

 "NAM-MÔ A-DI-ĐÀ PHẬT

 (Q5.KT-140-V1-782)

 

A-DUA

 "Lưng-chưng bèo giạt thân hành-đạo,

 Bị lũ a-dua cá út thiều."

 (02.BacLieu-325-V1-008)

 

 "Cứ theo cái lối a-dua,

 Dạ toan đốt miễu phá chùa từ-bi."

 (02.TuGiaBonĐao-287-V1-101)

 

 "Nghèo a-dua, bợ-đỡ nịnh tà,

 Khó trộm-cướp cũng là nhơ xấu."

 (Q5.KT-129-V1-445)

 

A-TƯ-ĐÀ

 "Ông là người Bà-la-môn tiên,

 A-Tư-Đà Tiên hiền tên lão."

 (Q5.KT-121-V1-178)

 

A-TỲ

 "Ngục A-Tỳ dựa kế một bên,

 Chờ những kẻ tu-hành giả-dối."

 (Q2.KDNK-061-V1-287)

 

Á

 

Á-ĐÔNG

 "Khuyên sanh-chúng gần xa phân cạn,

 Dựng Nhơn-Hoàng cho rạng Á-Đông."

 (01.ThienLyCa-200-V0-076)

 

 "Dắt-dìu nhơn-loại câu huyền bí,

 Bủa đức dạy đời rạng Á-đông."

 (02.PhgVgDemKhuya-336-V1-016)

 

 "Á-đông súng nổ đùng-đùng,

 Thì ta cũng phải vẫy-vùng thoát-ly."

 (05.GoiĐThanhnien-404-V1-011)

 

 "Khắp Á-Đông tưng-bừng náo nhiệt,

 Nô-nức nhau kiến-thiết quốc-gia."

 (05.TangĐTNAiQuoc-404-V1-005)

 

Á GIÁ

 "Si lung á giá tọa phú-hào,

 Tiên kiến hậu hiền quí kỷ cao."

 (02.ĐeChonĐatBac-264-V1-230)

 

 

Ạ Ẹ A B

 "Sớm chiều luyện-tập dìu em trẻ,

 Ạ, ẹ, a, b đủ một bầy."

 (01.tangGiaoXoai-220-V1-004)

 

ÁC

 

ÁC BẠO

 "Trị tội cho xong loài ác bạo,

 Công-đồng thưởng phạt hết đao binh."

 (03.MongCho-362-V1-011)

 

ÁC-CẢM

 "Tủi-hổ trông nhìn người dối thế,

 Tủi duyên ác-cảm đắm hồng-trần."

 (04.Tui-375-V1-008)

 

ÁC CHIẾN

 "Tà quái hạ-nguơn khai ác chiến,

 Ất niên Bình thự kiến quân-thần."

 (02.xhHuynhHHoa.B4.h-240-V1-007)

 

ÁC-ĐỨC

 "Bỏ phế hương-thôn; Ác-đức vô môn.

 Rồng-mây hội yến; Ra đời bất chiến,"

 (01.HoHoKhoan-192-V1-011)

 

 "Kẻ ác-đức hậu lai khổ thảm,

 Mắt phàm-trần tường-lãm hồ binh."

 (02.choThamtaNGA-268-V1-013)

 

 "Kẻ ác-đức cho rằng nói túng,

 Nó đâu ngờ lòng Lão yêu đương."

 (02.SaĐec-299-V1-029)

 

 "Làm ác-đức nhiều điều quanh-quẩn,

 Như gà cồ ăn bẩn cối xay."

 (Q4.GMTK-091-V1-077)

 

 "Mắt nhìn xem yêu quái bốn bề,

 Bởi ác-đức nên không ai cứu."

 (Q4.GMTK-101-V1-442)

 

ÁC-GIAN

 "Than rằng: tà-quỉ ác-gian,

 Chẳng cho bá-tánh được toàn thây thi."

 (01.choSungBienT-216-V1-015)

 

 "Mới là sợ chết ước-mong,

 Mà không ai cứu bởi lòng ác-gian."

 (01.ThienLyCa-207-V1-298)

 

 "Chừng đau niệm Phật lăng-xăng,

 Phật đâu chứng kịp lòng người ác-gian."

 (Q1.SGKNĐ-030-V1-202)

 

 "Dương-trần bỏ bớt tánh tham,

 Đừng chơi cờ-bạc đừng làm ác-gian."

 (Q3.SG-081-V1-454)

 

ÁC-HUNG

 "Mê-muội ác-hung về địa-ngục,

 Hiền-lành nhắm mắt thấy non Tiên."

 (01.29ThangChap-224-V1-023)

 

 "Diêm-phù chơn-Chúa chọn người tu,

 Hành phạt ác-hung chốn cửa tù."

 (02.ToiMongMot-234-V1-014)

 

ÁC-KHẨU

 "Tới Ác-Khẩu thứ ba bày-biện,

 Tiếng tục-tằn thô-lỗ hung-hăng."

 (Q5.KT-130-V1-475)

 

ÁC LẠI TỒN

 "Lành bay còn ác lại tồn,

 Đến chừng lập Hội xác hồn lìa xa."

 (Q3.SG-077-V1-303)

 

ÁC MỘNG

 "Thờ Phật-Đạo tỉnh cơn ác mộng,

 Thoát mê-đồ thường phóng quang-minh."

 (Q5.KT-132-V1-539)

 

ÁC NGHIỆT

 "Thâu cho được con long ác nghiệt,

 Thì khắp nơi mới biết mến yêu."

 (02.SaĐec-302-V1-121)

 

ÁC NHƠN

 "Mộng-phiền muốn khỏi phải làm sao?

 Hung-dữ, ác nhơn chớ bước vào."

 (01.29ThangChap-225-V1-030)

 

ÁC-TĂNG

 "Buồn thay cho lũ ác-tăng,

 Làm điều dối thế cho hư Đạo-mầu."

 (Q1.SGKNĐ-031-V1-211)

 

ÁC TẦN

 "Ỷ mình chê chúng rằng hay dở,

 Ganh-ghét hiền-nhu thứ ác Tần."

 (02.xhGiaoXoai.B1.h-236-V1-008)

 

ÁC-THÚ

 "Hùm beo tây tượng bộn-bề,

 Lại thêm ác-thú mãng-xà, rít to."

 (Q1.SGKNĐ-033-V1-318)

 

 "Hổ-lang ác-thú muôn bầy,

 Lớp bay lớp chạy sau nầy đa-đoan."

 (Q3.SG-072-V1-123)

 

 "Kẻ hung chừng đó làm mồi,

 Cho bầy ác-thú đền-bồi tội xưa."

 (Q3.SG-081-V1-430)

 

 "Chừng lao-xao ác-thú non Tần,

 Thì Nam-Quốc lương-dân mới biết."

 (Q4.GMTK-095-V1-243)

 

ÁC VỌNG-NGỮ

 "Ác Vọng-Ngữ thứ tư cũng cấm,

 Nói thêm thừa huyễn-hoặc đủ điều."

 (Q5.KT-131-V1-499)

 

ẠC

 

ẠC-NÚC

 "Ạc-Núc từ khi đến đất nầy,

 Giết đà vô-số kẻ thù Tây."

 (06.AcNuc-409-V1-001)

 

 "ẠC-NÚC

 (06.AcNuc-409-V2-000)

 

ÁCH

 

ÁCH NÀN-TAI

 "Thiên số định cũng chưa quá hạn,

 Nên phải còn bận mãi ách nàn-tai."

 (02.TrLoiCgOngTao-348-V1-054)

 

ÁCH NẠN

 "Say như Nhơn-Quí thì mang họa,

 Say của Lão Khùng ách nạn bay."

 (01.Say-215-V1-028)

 

ÁCH-TA-LÊ

 "Ấy là tiếng “ách-ta-lê”(1)

 Không đứng chỉnh-tề chúng bắn dập xương."

 (05.ĐichoivoiMaiVDau-407-V1-015)

 

ÁCH TRỜI NẠN NƯỚC

 "Ách trời nạn nước thình-lình,

 Người hung cứ mãi chống-kình với ta."

 (02.DanDoBonDao-277-V1-087)

 

ÁCH XÍCH-XIỀNG

 "Điên như Ta Điên giống Tiên-Rồng.

 Điên gỡ ách xích-xiềng thế-tục,"

 (02.DieuPhapQMinh-291-V1-036)

 

AI

 

AI AI

 "Ai ai cũng ở trên đời,

 Chốn nào không Đạo là đời vô liêm."

 (02.ĐeChonĐatBac-263-V1-189)

 

 "Ai ai cũng cứ ham tiền,

 Ấy là đem sợi xích-xiềng trói thân."

 (Q1.SGKNĐ-045-V1-729)

 

 "Ai ai đều cũng ngóng-trông,

 Coi lũ khách nầy hát thuật làm sao."

 (Q1.SGKNĐ-047-V1-797)

 

 "Ai ai hãy rán mà suy,

 Thương đời Ta tỏ chuyện ni rõ-ràng."

 (Q3.SG-078-V1-337)

 

 "Ai ai cũng rán xét mình,

 Nếu còn tánh xấu thì rinh ra ngoài."

 (Q3.SG-085-V1-577)

 

 "Người tu như thể bá-tòng,

 Ai ai cũng quí cũng trông cũng nhìn."

 (Q3.SG-085-V1-590)

 

 "Thấy trần-thế ai ai cũng ước,

 Đời sao không tới phức cho rồi."

 (Q4.GMTK-091-V1-073)

 

AI-BI

 "Tiếng ai-bi thở-than véo-vắt,

 Khắp Đông, Tây, Nam, Bắc chịu ưu sầu."

 (02.TrLoiCgOngTao-349-V1-077)

 

 "Trời thu ảm-đạm ai-bi,

 Nạn-tai vương-vấn bởi vì Trời riêng."

 (04.CamTac-374-V1-080)

 

AI CHÌ

 "Lập đời mới biết thấp cao,

 Bây giờ chưa biết ai thau ai chì."

 (Q3.SG-077-V1-314)

 

AI-HOÀI

 "Tơ lòng vương-vấn đời thêm bận,

 Tâm dạ ai-hoài cuộc nhện giăng."

 (02.14ThangMuoi-346-V1-006)

 

 "Dạ luống ai-hoài than-thở chút,

 Lòng lo dương-thế bắt cuồng-ngông."

 (02.choOngChinDiem-311-V1-031)

 

 "Con thuyền đương lướt gió sương,

 Bỗng nghe tiếng khóc tư-lương ai-hoài."

 (Q1.SGKNĐ-043-V1-672)

 

AI THAU AI CHÌ

 "Lập đời mới biết thấp cao,

 Bây giờ chưa biết ai thau ai chì."

 (Q3.SG-077-V1-314)

 

AI THI

 "Quí hóa ai thi hà quốc-thủy,

 Đài phi sơn-lãnh vị thành vinh."

 (02.xhNguyenTTan.B2.h-248-V1-003)

 

ẢI

 

ẢI BẮC

 "Ngày mong ải Bắc oan nầy giải,

 Đem sức ra nâng lá quốc-kỳ."

 (08.TgSungBenLau-433-V1-011)

 

ẢI-QUAN

 "Ngàn dặm đường xa cách ải-quan,

 Chúc nguyền đệ-tử được bình-an."

 (05.choDoVVien-402-V1-001)

 

ÁI

 

ÁI-ÂN

 "Niết-bàn dành để người phàm-tục,

 Trần-thế màng chi cuộc ái-ân."

 (02.xhGiaoXoai.B2.x-236-V2-006)

 

 "Dứt ái-ân quyến-thuộc chuyện-trò.

 Thoát sống khổ thương-yêu, ly-biệt,"

 (Q5.KT-127-V1-383)

 

ÁI DỤC

 "Lóng lánh gương xưa lời Phật dạy,

 Hồng-trần ái dục giết tài hoa."

 (02.TinhBanTGian-352-V1-016)

 

ÁI-HÀ

 "Hòa thôn hảo cảnh xứ chi Ta,

 Tạm dắt nhơn-sanh khỏi ái-hà."

 (01.29ThangChap-225-V1-054)

 

 "Ngồi buồn nghĩ cạn việc huyền-ca,

 Muốn rứt cho xong bể ái-hà."

 (01.NghiVHuyenCa-197-V1-002)

 

 "Não tâm tràng sớm dứt ái-hà,

 Nên phải vội lìa xa cõi tạm."

 (02.choThamtaNGA-269-V1-035)

 

 "Bể ái-hà gươm linh sớm dứt,

 Lòng bồ-đề sắt-đá dám kình."

 (02.DieuPhapQMinh-292-V1-081)

 

 "Biết chừng nào chúng-sanh vượt khỏi,

 Bể ái-hà rứt bỏ vẹn lau."

 (02.DieuPhapQMinh-293-V1-106)

 

 "Liên-lụy trần mê bể ái-hà,

 Bỗng xuất thoàn tình mượn thi-ca."

 (02.ĐeChonĐatBac-264-V1-226)

 

 "Thế-trần tạm giả gạt đời ta,

 Lướt khỏi sông mê khỏi ái-hà."

 (02.TinhBanTGian-352-V1-010)

 

 "Nghe chuông linh sớm dứt bể ái-hà,

 Kẻo vật-dục cuốn lôi vào bể khổ."

 (04.CamTac-373-V1-049)

 

 "Rày tỉnh-ngộ ái-hà quyết dứt,

 Đèn đạo tâm sáng rực soi đường."

 (04.choCoTauHao-371-V1-010)

 

ÁI MAO

 "Ái mao vị tiện ngô đồng phụng,

 Tiết giác thâm tàng trạch thủy qui."

 (02.xhNgKyTran.B1.x-249-V2-013)

 

ÁI-MỘ

 "Kẻ xa-xôi có lòng ái-mộ,

 Xem Kệ nầy tu-tỉnh tại nhà."

 (Q4.GMTK-105-V1-587)

 

ÁI-Ố

 "Cõi trần-thế biết bao điều ái-ố,

 Hơn cùng thua nhắm mắt cũng ra ma."

 (02.KhongBuonNgu-339-V1-021)

 

 "Tai nghe chi những câu ái-ố,

 Lòng từ-bi chớ cố lời gièm."

 (02.NangThoCamTu-319-V1-081)

 

 "Những mơ-ước hồi-qui thượng-cổ,

 Thì hết câu ái-ố gièm-pha."

 (02.XHTacCuongTho-282-V1-024)

 

 "Tu còn ái-ố sân-si,

 Tu còn nhiều tánh dị-kỳ trần mê."

 (07.PhuNuCaDieu-430-V1-005)

 

ÁI-QUỐC

 "Đâu là ái-quốc với yêu đời,

 Phổ-cứu cho rồi mới thảnh-thơi."

 (01.NghiVHuyenCa-197-V1-009)

 

 "Nói cho đời rõ biết Khùng-Điên,

 Điên vận-bĩ điên câu ái-quốc."

 (02.DieuPhapQMinh-292-V1-068)

 

 "Trăm năm ghi-tạc miễu son,

 Trung-quân ái-quốc hãy còn danh bia."

 (02.VLangPhuAn-252-V1-010)

 

 "“TẶNG ĐOÀN THANH-NIÊN ÁI-QUỐC”

 (05.TangĐTNAiQuoc-404-V1-000)

 

 "Vừa nghe nói Đoàn Thanh-Niên Ái-Quốc,

 Lòng sĩ-tăng bỗng bật sự vui say."

 (05.TangĐTNAiQuoc-404-V1-001)

 

 "Dầu không siêu cũng đặng về Thần,

 Nhờ hai chữ trung-quân ái-quốc."

 (Q4.GMTK-098-V1-326)

 

ÁI TRUẤT

 "Kiên-cố của tiền thiên đạo-lý,

 Cấp hồi ái truất trót canh thâu."

 (02.ĐeChonĐatBac-260-V1-104)

 

AM

 

AM-CỐC

 "Tớ Thầy non-núi dựa kề,

 Cũng tìm am-cốc liệu bề dạy khuyên."

   (02.ĐeChonĐatBac-262-V1-166)

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn