Những Bài Sáng-tác Năm Canh-thìn (1940) - Phần 18

01 Tháng Bảy 200212:00 SA(Xem: 35169)
Những Bài Sáng-tác Năm Canh-thìn (1940) - Phần 18

NGÂM:

Tu cho kẻ bạo khâm-nhường,
Đẹp lòng cha mẹ Cửu-Huyền chờ trông.

"ĐÊM NGỒI MỘT MÌNH"
(tiếp theo bài trước)

Riêng phòng vắng-vẻ một mình ta,
Đèn điện bật lên ánh sáng lòa.
Trí não nghĩ suy tuồng biến đổi,
Tâm hồn liệu lượng cảnh thay nhà.
Tai nghe bốn phía xe cùng ngựa,
Mắt thấy chung quanh vách trắng ngà.
Cô độc nhưng lòng nô-nức mãi,
Cố tình kinh-nghiệm những ngày qua.

Nhà thương Chợ-quán, ngày 30-9 Canh-Thìn

MƯỜI BỐN THÁNG MƯỜI

Cảnh trời mây mịt vẽ lăng-quằng,
Mười bốn tháng mười lại khuất trăng.
Ngẫm việc thiên-cơ càng biến chuyển,
Xem chừng địa-lý quá xung xăng.
Tơ lòng vương-vấn đời thêm bận,
Tâm dạ ai-hoài cuộc nhện giăng.
Biết đó biết đây thời với vận,
Để ngày kết cuộc khó ăn-năn.

Nhà thương Chợ-quán, ngày 14-10 Canh-Thìn (trước khi Cọng-sản nổi dậy ở Xoài-Hột)

"THAN ĐỜI"
(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

Chạnh lòng nghĩ lại cảnh phiền ba,
Nghi-ngút bợn nhơ khói vạy tà.
Lăn lác phong-trần dày dạn mặt,
Truân chuyên bể ái kiếp mày hoa.
Hố sâu chất chứa người bạc-ác,
Hang thẳm chôn chồng kẻ thiết tha.
Trời đã hoàng hôn mau chợt tỉnh,
Tìm đèn Trí-Huệ lánh thân ra.

Lánh thân ra khỏi kẻo mang tai,
Tầm nẻo cao siêu đến Phật-đài.
Bến giác Thần, Tiên mau chực sẵn,
Bể mê phàm tục phải cao bay.
Nợ duyên đeo-đắm nơi đời tạm,
Kiếp số luân-chìm chốn gốc gai.
Rày gặp mưa nhuần ân Thánh-đế,
Cam-lồ rưới tắt lửa trần-ai.

Nhà thương Chợ-quán, ngày 3-12 Canh-Thìn

"TRAO LỜI CÙNG ÔNG TÁO" (Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

Đôi lời cạn hỏi Táo-quân ông,
Sắp tính vể chầu Thượng-giới không.
Nếu có việc trần tâu thẳng lẽ,
Đừng như những kẻ bén hơi đồng,

Đêm ngồi nghĩ hỏi thăm ông Táo,
Sổ-sách trần ông tính đã xong chưa?
Năm Canh-Thìn nhiều trận gió mưa,
Chơ nhơn-loại trăm cay cùng ngàn đắng.
Còn một tháng trông coi dài dặn,
Chắc hăm-ba theo lệ cũng chầu Trời.
Đêm nay trò chuyện với tôi chơi,
Thêm dặn trước ít lời ông xin nhớ.
Táo cười rằng! có chi nhắn-nhờ?
Mới hôm nay sao lại gấp quá chừng?
Có điều chi lo liệu bâng khuâng,
Mà vội-vã dặn-dò tôi sớm vậy?
Sãi cả cười, vuốt-ve tấm đãy:
Sợ ngày về ông bận lắm chè xôi.
Của chúng-sanh làm lễ vãng hồi,
E quên mất những lời tôi gởi-gấm.
Nên tính trước trao tờ cáo-thẩm,
Cuộc trần-gian đà trải một năm qua,
Luôn từ ngày Tăng-Sĩ xa nhà,
Đều uất-kết tâu qua cùng Thượng-Đế:
Ngày vâng chỉ đáo-lai trần-thế,
Cõi Trung-Ương nhằm đất nước Việt-Nam.
Chọn một chàng tuổi trẻ tục-phàm,
Mượn tay gã.tờ hoa Thần hạ bút.
Khuyên bá-tánh tầm Tiên rời tục,
Chỉ máy Trời bày tỏ việc về sau.
Gái cùng trai già trẻ bước vào,
Đường trí-huệ qui-y gìn Đạo-pháp.
Thần cũng chẳng say mê chùa tháp,
Chẳng tham tiền, tham vật, món chi chi.
Hơn năm dư quyết chí duy trì,
Truyền sanh-chúng phải kính thờ Trời, Phật.
Cũng lắm kẻ phàm phu sơ thất,
Vội trêu đùa lũ quỉ ngạo đoàn ma.
Lúc ăn-năn sửa tánh rất thật-thà,
Còn lắm kẻ nghinh-nganh theo chọc rối.
Mượn luật-pháp ẩn trong bóng tối,
Mãi làm đều phi nghĩa chuyện bất lương.
Dạ hiểm sâu không thước đo lường,
Dốc phá hoại đường ngay, bôi lẽ thẳng.
Thêm lời tiếng thấp cao nhẹ nặng,
Làm cho người tu tỉnh phải xót-xa;
Nên hạ thần kính-cẩn tâu qua,
Xin Ngọc-Đế phân minh giùm trần-thế.
Nay cũng lắm người ưa kinh-kệ,
Muốn tu mà gặp lúc quá gay-go.
Xác trần còn mắc phải neo đò.
Giờ rước khách đã ngưng rồi năm tháng.
Thiên-số định cũng chưa quá hạn,
Nên phải còn bận mãi ách nàn tai.
Vọng Thánh-minh đức rạng khắp nhơn-loài,
Ban phước xuống dân lành cho bớt khổ.
Gạo lúa kém là đồ sản-thổ,
Hàng hóa cao, ấy của ngoại bang vào.
Kẻ nghèo hèn thêm nỗi đói, đau,
Rất mong-mỏi an-cư cùng lạc nghiệp.
Oai trời đất, thế-trần khủng-khiếp,
Nhưng ngặt loài thỏ-cáo cứ đua tranh.
Lũ sói hùm hươi gút múa nanh,
Cho trăm họ hãi-hùng cơn sấm nổ.
Thần rán sức ra công khuyến dỗ,
Gìn thuần-phong mỹ-tục của Rồng-Tiên.
Tập ờ ăn theo nết Thánh-hiền,
Lòng tu tỉnh, dòm Phật-Tiên nối chí.
Bày tường-tận trước sau chung thỉ,
Đời văn-minh vật-chất bỏ gương xưa.
Nghiệp Tổ Tiên con cháu vày bừa,
Học thói mới lăng loàn theo sở dục.
Khắp thế-giới binh lương cụ túc,
Quyết tranh-giành quyền-lợi, xé-xâu nhau.
Thấy nhơn-sanh tuôn giọt máu đào,
Lòng bác-ái động tình rơi nước mắt.
Tiếng ai-bi thở than véo-vắt,
Khắp Đông, Tây, Nam, Bắc chịu ưu sầu.
Kẻ lương-hiền chờ giọt mưa ngâu,
Người bạo ngược thừa cơ nguy thủ lợi.
Ở thị thiềng đua chen xướng-khởi,
Nhưng tuồng hư, cho bọn gái lẫn trai.
Nào hút thuốc phiện, hội ve chai,
Nào trùm-đĩ, ma-cô, nghề hút máu.
Ai để mắt xem đời chu đáo,
Chẳng khỏi than giùm dân-tộc hư hèn.
Diện áo quần, son phấn lấn chen,
Miễn cho mình được lên xe xuống ngựa.
Mãng điềm-tô huy-hoàng nhà cửa,
Ai khốn-cùng để mặc đất, trời xây.
Thấy nhơn gian khuynh dảo tỏ bày,
Cho Thương-Đế lãm tuồng trong sanh-chúng.
Bấy nhiều đều xét xem nhân-chủng,
Táo đệ giùm cho thấu đến Thiên-cung.
Còn nhiều đều gớm-ghiếc hãi-hùng,
Lấy yếu lược dôi câu mà trần tố.
Nay cùng ông hữu duyên tương ngộ,
Chúc ông về Thượng-giái được ban khen.
Phần Sĩ-Tăng tay trống miệng kèn,
Giác thiện-tín chấn-hưng nền Phật-giáo.
Nếu chừng nào khai thông đại Đạo,
Đuốc từ-bi rọi khắp cả nhơn-gian.
Bể trầm-luân khô cạn sáu đàng,
Tăng-Sĩ mới trở về nơi thanh-tịnh.

Nhà thương Chợ-quán, ngày 3 tháng chạp Canh-Thìn

"TỰ THÁN"

(Chép theo bổn chánh do Đức Ông giữ)

Vì đâu bốc ngọn lửa Tần,
Mà lòng Tăng-Sĩ như dần nát tan.
Nghĩ mình chọn kiếp con hoang,
Quê hương rày đã dậm tràng sơn-xuyên.
Tổ-đường còn một cành huyên,
Từ-đường hôm sớm luống phiền chờ trông.
Hai em thiểu trí thơ-đồng,
Chị đà an phận theo chồng đàng xa.

Từ mang một tấm áo dà,
Mùi thiển đã thắm ơn nhà lợt phai.
Sống sanh ra phận râu mày,
Một đời một Đạo đến ngày chung thân.
Tuy là xa cách cố nhân,
Nơi đời triếu mến sớm gần cửa không.
Từ-bi buộc chặt cõi lòng,
Còn ơn cúc-dục để hòng mai sau.
Bể trần sóng cuộn lao-xao,
Xông thuyền bát-nhã lướt vào một phen.
Quản chi lực kém tài hèn,
Dù đời bạc đãi ngọn đèn cứ nêu.
Soi từ đài các xá lểu,
Cho người trụy-lạc biết đều nghĩa-nhân.
Tài tai hai chữ cân phân,
Trời ban họa phước một lần cho ta.
Mắt đen thấy mắt trắng lòa,
Phật ma, ma Phật mới ra vở tuồng.
Trời già tay khéo, khéo luôn,
Sắp chi chua ngọt pha buồn lẫn vui?
Năm canh luống những sụt-sùi,
Cám trong nhân-chủng lắm người dở-dang.
Sầu chung ta cất tiếng than,
Phù-sinh kiếp có đoạn tràng thì thôi.
Bon bon chuông giục mấy hồi,
Rầm rầm sấm nổ trên đồi xa xa.
Đầu canh tiếng động bên nhà,
Chờ ba canh một thì gà gáy tan.
Ngày xuân cách cội xa làng,
Người quê Quán-Chợ như thoàn linh-đinh.
Vừa cơn xóng gió bất bình,
Số trời đã định phận mình biết sao.
Ngày xưa mấy bực yên-hào,
Vào sanh ra tử dạ nào trách than.
Thân nầy đã ngấm trầm nhang.
Vui câu bác-ái bền gan đợi chờm,
Đêm khuya vằng lặng như tờ,
Vài hành nhủ hết chớ ngơ-ngẩn lòng.
Gắng tình đừng lắm ngóng trông.
Hung-tinh sao ấy trời Đông lờ-mờ.
Hềm vì mắc lá thiên-thơ,
Đôi đều ghi chép cõi bờ chưa xong.
Thôi thì lòng dặn lấy lòng,
Gẫm đây đến cuộc mây rồng chẳng xa.
Đêm khuya lác-đác sương sa,
Phòng khuya lạnh-lẽo có ta với phòng.
Gật-gù suy cuộc hưng vong,
Quyết xoay máy tạo gánh gồng chưa yên.
Trí thần nhớ đến tiếng quyên,
Gọi hồn cố-quốc sầu riêng một mình.
Trầm-ngâm vẻ mặt làm thinh,
Tựa mình bên gối giấc quỳnh đã say.
Mơ tiên hồn muốn vụt bay,

Nhà thương Chợ-quán, tháng chạp năm Canh-Thìn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn