Những Bài Sáng-tác Năm Canh-thìn (1940) - Phần 14

01 Tháng Bảy 200212:00 SA(Xem: 33908)
Những Bài Sáng-tác Năm Canh-thìn (1940) - Phần 14

CưaTiên-bang hãy còn khóa cổng,
Nhà cha xưa cửa đóng then gài.
Con nào hiền thì vẹn thảo ngay,
Đứa ngỗ-nghịch một mai đứt cổ.
Nhìn gương kiếng sao không biết hổ,
Lũ gian thần nào biết Tổ Tông.
Làm âu-sầu một góc trời Đông,
Bị miệng sói thổi lòng tìm vít.
Văn cang-thường đem ra bày trích,
Vạch chỉ lời cổ tích người xưa.
Nghĩ vì đâu có cuộc giày bừa,
Cho lăn-lóc những người mới tỉnh.
Phải chi Phật lấy ngay bình tịnh,
Rưới cho trần được tĩnh chút tâm.
Mãi để câu ví diệu thậm thâm,
Cho sanh-chúng rừng lâm khó mở.
Được gió nhẹ ngờ đâu dễ thở,
Bỗng dông luồng âm khí nặng-nề.
Phải ngóng chờ cho phụng gặp kê,
Ấy thời đại Thánh Tiên trổ mặt.
Càng nhìn dân lòng tơ siết chặt,
Đau chi bằng đau khúc đoạn trường.
Ước sao mà thuận gió buồm trương,
Đò bất-nhã rước tôi lương đống.
Ngày vui tươi cũng đà lố bóng,
Cớ sao đời còn mãi say-sưa?
Không tìm Thầy đặng hưởng phước thừa,
Ngày lập Hội tay vin nhành quế.
Trau thân phận rạng danh hiếu đễ,
Thỏa dạ Thầy nơi chồn mây rồng.
Đừng chi lìa Bắc tổ Nam tông,
Chỉ biết giống Lạc-Hồng Thượng-cổ.
Tai nghe chi những câu ái ố,
Lòng từ-bi chớ cố lời gièm.
Đạo hiểu rồi ngon tợ gỏi nem,
Tuy cõi thế lấm-lem trần-tục.
Mây ganh hờn đầy lòng nghi-ngút,
Giữ dạ trong đừng đục mới mầu.
Thân bần tăng mặc bộ sồng nâu,
Cuộc thiên-lý một bầu đều hãn.
Đến kỳ thi danh Thầy chạm bảng,
Trên đài cao gọi các linh hồn.
Nay ngu khờ len-lỏi hương-thôn,
Sau đác Đạo tiếng đồn bốn biển.
Giảng với sấm ra tài sửa kiểng,
Kệ cùng xa lựa tuyển con lành.
Tuy là ta không thể sanh thành,
Nhưng thương hết ra tài dạy-dỗ.
Đời phải biết suy kim nghiệm cổ,
Thông cơ-đổ dựng nghiệp Thánh Hiền.
Ta quyết lòng rứt nợ oan-khiên,
Cứu bá-tánh khỏi nơi lao-khổ.
Gà lôi sớm mượn oai tố-hộ,
Có một ngày rớt lốt hổ-han.
Nhu hiền hòa nhược ắt thắng cang,
Đời cùng đạo bi hoan, ly hiệp.
Tấm lòng thành gian-truân chớ khiếp,
Đức từ-bi tiếp-dẫn linh-hồn.
Nén hương nguyền cầu với Phật-Tôn,
Ban phước-huệ cứu nàn dương-thế.
Nhớ thuở nhỏ nhờ ơn bồng-bế,
Nay được nên vai-vế trưởng thành.
Ngẫm cuộc đời hai chữ trược-thanh,
Thân hành đạo vang danh khắp chốn.
Nhưng ngặt nỗi gặp đời hỗn-độn,
Câu quân-thần, phụ-tử rã-rời.
Khuyên tu hành hao sức tổn hơi,
Chẳng hề mở miệng ra than trách.
Hãy bỏ dứt tánh tình kiêu-cách,
Các con lành khá chọn ngay đường.
Tuy thân Thầy lướt cuộc gió-sương,
Mà thỏa chí tang-bồng hồ-thỉ.
Câu trượng-phu là trang nghĩa-sĩ,
Chữ anh-tài của đấng trung-lương.
Phận tu hành đạm bạc ra tương,
Miễn cầu được an-khương bốn-bể.
Rung chuông lành bằng muôn tiếng kệ,
Gọi hồn người hành thiện truy kinh.
Ra khuyên dân hẹn có sơn minh,
Dìu bá-tánh hứa câu thệ hải
Miễn tâm được hư-vô tồn-tại,
Sống ở trần hối cải tiền phi.
Sống làm sao vẹn chữ tu mi,
Sống vùng-vẫy râu-mày nam tử.
Tự như nhiên oai-phong thiên tứ,
Bút thần-linh mượn mực tay đề.
E dương-trần công việc trễ-bê,
Nên giục-thúc nhơn-sanh cày cấy.
Dụng Bá-Nha lên dây dờn khảy,
Lo cho đời quên vóc ốm gầy.
Ngày hằng mong gặp hội Rồng-mây,
Xanh men-mét cũng thây thịt xác.
Đi tới đâu giúp người khao-khát,
Ngặt giống sâu khó múc mau đầy.
Trong suốt ngày làm việc lây-quây,
Dùng giấy, mực trưng-bày đạo-đức.
Biết bao giờ gái trai tỉnh thức,
Trẻ cùng già đồng hiểu Phật-gia.
Nương hùng-phong trổi giọng cuồng-ca,
Ca cuộc thế ca câu khuynh-đảo.
Buổi nhập tiệc trải qua tràng pháo,
Khói mịt-mù văng xác đầy đường.
Cuộc đời nay như ngựa buông cương,
Khó dừng lại có cu lụp-hụp,
Chim đua bay, cá lại tranh mồi.
Ngọn thủy-triều nô nức sụt-sôi,
Bầu trái đất một phen luân-chuyển.
Ta là kẻ tu hành thiển kiến,
Xét thế-trần luận-biện đôi điều.
Chớ đâu nào bày việc trớ-trêu,
Muốn giác-tỉnh người mê trở lại.
Mong sanh-chúng học đều thông-thái,
Rèn tâm lành bác-ái trau-tria.
Hành đạo thiền cấp-cấp sớm khuya,
Lòng thương chúng khuyên-răn đủ thế.
Mà nào khác chợ trưa đồ ế,
Bán rẽ-rề ít kẻ hỏi mua.
Mảng lo theo lối mới tranh-đua,
Lại bỏ ngón se-sua học-thức.
Thân hèn-yếu lại vô năng-lực,
Chẳng tìm nơi thuốc nhiệm sửa gân.
Miệng toàn lời bắt-chước chúa Tần,
Muốn chôn sống anh-tài nhu-sĩ.
Nhưng mắc phải từ-bi lập chí,
Lược cùng thao, thao lược vẹn hai.
Của Thần Tiên đã sắp sẵn bày,
Nhờ ơn mọn giúp thêm chí cả.
Miệng nhích môi đầy văn tao-nhã,
Hạ bút thần thơ đã đề khai.
Khó làm cho Hiền-Thánh lung-lay,
Chỉ tước nước vun phân cây quí.
Thêm mắc phải tay chàng Nhạc-Nghị,
Cận Thầy xưa định việc an dân.
Tiết trung-lương hiếu-nghĩa rạng ngần,
Ông Bàn-Cử mẹ ghi chạm thịt.
Luận sơ-sơ cho dân rõ tích,
Để chờ ngày hoán võ hô phong.
Ban cho đời thoát chữ cay-nồng,
Nay giục thúc câu quân tu ký.
Ngày nào mà Phật Tiên tọa vị,
Ấy thời lai bình trị muôn dân.
Khắp các nơi chư quốc xưng thần,
Trong bốn biển chúng dân lạc nghiệp.
Theo dõi gót người xưa mới kịp,
Vừng mây lành ngũ sắc hào quang.
Phật, Thánh, Tiên, Đông-Độ lướt sang,
Miền Nam-địa phân chia đẳng-cấp.
Nước cờ mới nay đà khởi sắp,
Trổ tài hay biển lấp non dời.
Dưới cùng trên ảm-đạm khí trời,
Cả thế-giới mưa hòa gió thuận.
Tạo nền móng Thánh-quân đặt vững,
Nơi triều-ca gầy-dựng tôi hiền.
Giờ mắc câu thiên lý vị nhiên,
Nên còn đãi thiên oai nấy lịnh.
Tỏ tình đời ít câu cung thỉnh,
Mong khán-quan vào cửa xem tuồng.
Cỏ cùng cây điểu-thú chim-muông,
Nhơn với vật huờn lai bổn-tánh.
Đó mới biết ai là Phật Thánh,
Ai thảo-hiền ai lỗi đạo nhà.
Đồng hát câu phụ-tử khải-ca,
Chúc trăm họ muôn nhà thạnh-thới.

NGÂM

Bồ-đào rượu thánh trà tiên
Muôn năm cọng lạc chúa hiền tôi trung.

Nhơn-Nghĩa, ngày 29-5 Canh-Thìn

Hỏi HẰNG-NGA: (Cổ-thi)

Ớ ớ Hằng-Nga dám dỏi đon,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn?
Ba mươi mồng một đi đâu vắng?
Nay về hỏi đặng mấy thằng con?

ĐỨC THẦY họa:

Cõi thế nhìn ta gọi tiếng đon,
Phàm nhơn chẳng rõ nói eo tròn?
Hoàn-cầu luân chuyển nên mờ mắt,
Tháng cuối rồi qua cũng một con.

Nhơn-Nghĩa, ngày 14 tháng 6 dl, 1940 (Canh-Thìn)

Hỏi HẰNG-NGA : (Cổ thi)

Ớ ớ Hằng-Nga dám hỏi đon,
Cớ sao khi khuyết lai khi tròn?
Đông qua Dương-cốc bao nhiêu dặm?
Tây đến U-đô cách mấy hòn?
Uống thuốc trường-sanh đà mấy lượng?
Lấy chồng Hậu-Nghệ bấy nhiêu con?
Ba mươi mùng một đi đâu vắng?
Hay có tư tình với nước non?

ĐỨC THẦY họa:

Bời tại vì ai có tiếng đon,
Luân luân chuyển chuyển mãi eo tròn.
Nam-thiền quê cũ mù xa dặm,
Bắc-lý nhà xưa mịt núi hòn.
Tiên trưởng đơn hay dầu ức lượng,
Phật Thần dược giỏi gắng tìm con.
Thương đời phi pháp tuy nhà vắng,
Những để đền bù với ước non.

Vịnh HẰNG-NGA: (Cổ-thi)

Khen ai cắc cớ bắm trời tây,
Tỉnh giấc Hằng-Nga khéo vẽ mày.
Một phiến linh-đinh trôi mặt biển,
Nửa vừng lửng-đửng dán trên mây.
Cá ngờ câu thả tơi-bời lội,
Chim tưởng cung trương sập-sận bay.
Nên một nên hai còn bé tuổi,
Mười lăm mười bày bốn phương hay.

ĐỨC THẦY họa:

Mây hồng năm sắc ở phương tây,
Sáng-suốt ô kim bởi vẹn mày.
Miểng nhỏ tiếng to vang bốn biển,
Lưỡi mềm lời lớn dậy Rồng Mây.
Lòng trong Thank kệ tình bơi lội,
Dạ sach Phật kinh ý luyện bay.
Dầu cho thân mỗ thanh xuân tuổi,
Thức giấc đời mê phải được hay.

BẠC LIÊU

Diệu-vợi đàng xa đến Bạc-Liêu,
Thiền-môn vẹn-vẽ quá tiêu-điều.
Bồng-lai tại thế non đường sánh,
Đẹp-đẽ cho ta trổi nhạc thiều.

Bổn-đạo trông chừng chữ Bạc-Liêu,
Cớ sao giành muốn cấm lời diêu.
Lưng-chưng bèo giạt thân hành đạo,
Bị lũ a-dua cá út thiều.

Lá phép xin về tỉnh Bạc-Liêu,
Ngụ noi gia-trạch Hội-đồng Điều.
Lòng trông Chánh-phủ cho hay chẳng,
Khó dễ làm gì việc bấy nhiêu?

Nhơn-Nghĩa (Xá-No), lối tháng 6 năm Canh-Thìn

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn