Những bài sáng-tác năm Nhâm-Ngũ (1942) - Phần 5

29 Tháng Bảy 200212:00 SA(Xem: 34751)
Những bài sáng-tác năm Nhâm-Ngũ (1942) - Phần 5

Như tôi thấy chén không,
Cầu nguyện chúng-sanh đông.
Đến tận bờ thanh-tịnh,
Phiền não vẫn không không.

Nhược kiến mãn bát,
Đương nguyện chúng-sanh.
Cụ túc thạnh mãn,
Nhứt thiết thiện pháp.

Bằng như tôi thấy bát đầy đây,
Cầu nguyện chúng-sanh khắp cõi nầy.
Chứa được đủ no thêm vẹn-vẽ,
Pháp lành các món cũng về đây.

Thiện tai giải-thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Ngã kim đảnh đái thọ,
Thế thế bất xã ly!
(Án tất đà da tá ha!)

Lành thay y phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt tươi.
Cúi đầu đội nó trên người,
Thề nguyền kiếp kiếp đời đời chẳng phai.

Thiện tai giải-thoát phục
Vô thượng phước điền y.
Ngã kim đảnh đái thọ,
Thế thế thường đắc phi.
(Án độ ba độ ba tà ha!)

Lành thay y-phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt tươi.
Cúi đầu đội nó trên người,
Thề nguyền được mặc đời đời chẳng phai.

Thiện tai giải-thoát phục,
Vô thượng phước điền y.
Phụng trì Như-Lai mạng,
Quảng độ chư chúng-sanh.
(Án ma ha ca bà, ba tra tất đế ta ha!)

Lành thay y-phục thoát trần,
Khác nào thửa ruộng tột phần tốt tươi.
Nguyện theo mạng lịnh Như-Lai,
Mở lòng rộng-rãi độ rày chúng-sanh.

Nguyện thử chung thinh sieu pháp-giái,
Thiết vi u-ám tất giai văn.
Văn trần thanh-tịnh chứng viên thông,
Nhứt thiết chúng-sanh thành chánh-giác!

Nguyện tiếng chuông lành thông các cõi,
Thiết vi địa-ngục cũng nghe rành.
Nghe rồi thân tịnh tâm tròn sáng,
Tất cả chúng-sanh Phật đạo thành!

Văn chung thinh phiền-não khinh,
Trí-huệ chưởng bồ-đề sanh.
Ly địa-ngục xuất hỏa khanh,
Nguyện thành Phật độ chúng-sanh.
(Án đà ra đế dạ ta bà ha!)

Nghe chuông phiền não tiêu tan,
Bồ-đề tâm mở trí toan huệ mầu.
Lìa xa địa-ngục thảm sầu,
Khỏi nơi hầm lửa đặng cầu chơn tâm.
Nguyện tu thành Phật chẳng lầm,
Độ trong sanh-chúng hết làm tai nàn!

Thủ chấp tịnh bình,Đương nguyện chúng-sanh.
Nội ngoại vô cấu,
Tất linh quang khiết!
(Án thế dà rô ca sất ta ha,
Án phạ tất ra thí dà lò sất mạng sất tà ha!)

Tay tôi cầm lấy tịnh bình,
Nguyên cầu thân thể chúng-sanh trong ngoài.
Đều không nhiễm trược trần ai,
Sạch tinh sáng láng tắc lai diêu huyền!

Bạc-liêu, tháng 7 năm Nhâm-Ngũ

CHO CÔ HAI GƯƠNG (CẦN-THƠ)

Thầy thương đệ-tử ngẩn-ngơ sầu,
Vẫn biết công-phu con dãi-dầu.
Nhưng nỗi tiền-khiên gây lắm nợ,
Đời nầy trả dứt mới mong cầu.

Mong cầu gặp Phật hội Long-Hoa,
Con rán trì tâm niệm Phật-Đà.
Xét lại xác Thầy xưa cũng hoại,
Thân phàm bỏ lại thế-gian mà!

Đến hội trăm quan còn hiện được,
Thì ra xác thịt có cần đâu?
Khuyên con nghĩ cạn đừng ưu-lự,
Mượn chước huyền-cơ giaiả mạch sầu.

Ví Thấy xác thể phải còn đau,
Hà huống chi con tránh được nào?
Quả dữ trả rồi nhân thiện đến,
Nếu Thầy đắc đạo bỏ con sao?

Đường xá xa xuôi Thầy nguyện cầu,
Phật Thần ban rải huệ linh mầu.
Cho con yên-ổn thân đôi chút,
Chớ dễ nào Thầy quên trẻ đâu!

Bạc-liêu, 24-8 Nhâm- Ngũ (3-10-42)

CHO CÔ NĂM VÕ-THỊ-HỢI Ở BẠC-LIÊU

Hãy rán tu tâm dưởng tánh lành,
Đừng cho ma nghiệp vọng tâm-sanh.
Quay về cội phúc đường chân đạo,
Phật-pháp thiền-na dốc thực hành.

Chờ nhiễm trần-hoàn đượm phấn son,
Chiêm-bao cuộc thế chẳng thường còn.
Chi bằng nhớ lại câu hồng thệ,
Tỉnh ngộ nghe Thầy dạy hỡi con!

Hỡi con! Đời tục rất hôi tanh,
Trí-huệ trau-giồi kiếm nẻo thanh.
Mãn kiếp hồng-trần sanh Lạc-quốc
Hưởng công niệm Phật rất yên lành.

Thầy thấy con nay đắm cõi trần,
Đường tư lơ-lảng chẳng ân-cần.
Thương thay công quả tu từ trước,
Lại muốn bỏ đành gốc thiện nhân!

Chẳng sớm về nhà lo sám-hối,
Cầu trên Phật-Tổ giải mê-căn.
Ắt là hồn trẻ còn chi nửa(1),
Dịa-ngục trầm-luân cách thượng tằng.

Sàigòn, ngày 23-12-42 (6-11 Nhâm-Ngũ)

(1) Quả thật cô này sau chết tại nhà thương Biên hoà năm 1945.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn