Những Bài Sáng-tác Năm Tântỵ (1941) - Phần 2

24 Tháng Bảy 200212:00 SA(Xem: 34708)
Những Bài Sáng-tác Năm Tântỵ (1941) - Phần 2

GIẢI-THOÁT CỬU-HUYỀN

Rán tu đắc đạo cứu cửu-huyền,
Thoát chốn mê-đồ đến cảnh Tiên.
Ngõ đáp ơn dày công sáng tạo,
Cho ta hình vóc học cơ-huyền.

Bạc-liêu, 21-6 nhuần Tân-Tỵ (11-10-41)

TỘI VỚI THIÊN-HOÀNG

Chúng-sanh đắc tội vời Thiên-Hoàng,
Đạo-lý chẳng gìn ở dọc ngang.
Nên mới gây ra trường thảm họa,
Làm cho lê-thứ chịu lầm than.

Bạc-liêu, 22-6 Tân-Tỵ (10-12-41)

MẤY ĐOẠN TƠ LÒNG

Theo lời ông Hương-bộ Thạnh thì trong khi Đức Thầy ở Bạc-liêu, ông ở Nhơn-Nghĩa (Cần-thơ) hăng-hái đi cổ-động cho người ta vào Đạo. Khi được lịnh Đức Thầy bảo đừng đi hoạt-động nữa, ông buồn lắm. Nhơn thấy người tá-điền đem cho một trái sầu riêng, ông tức cảnh làm bài thi dưới đây rồi cho bà Hương-bộ đem đến Đức Thầy.

Đức Thầy trả lại ông bài thơ: "Trái sầu riêng" và có cho thêm bài Mấy đoạn tơ lòng như dưới đây:

TRÁI SẦU RIÊNG

Thân hình gai gốc nghĩ càng thương,
Thật trái sầu riêng báu của vườn.
Lắm kẻ chê bai rằng nhám-nhúa,
Nhiều người yêu chuộng tại mùi hương.

Giúp đời trải dạ cơn khao-khát,
Đỡ chủ tàng che lúc nắng sương.
Trinh bạch tấm lòng trời đất rõ,
Đinh-ninh dạ trắng núi sông tường.

MẤY ĐOẠN TƠ LÒNG

Mấy đoạn tơ lòng mấy đoạn đau,
Muôn dân ngơ-ngẩn đợi mưa dào.
Thiết-tha thiện-tín câu cầu nguyện,
Vui-đẹp dạ Thầy luống ước-ao.
Lòng người muốn vậy trời chưa vậy,
Cuộc thế xây vần đất phụ sao?
Nhẫn nhẫn cho rồi câu bĩ cực,
Thời lai sẽ được cảnh tiêu dao.

Bạc-liêu, năm 1941
Theo lời ông Hương-bộ thì Đức Thầy còn gởi thêm 3 bài tứ cú đăng nơi trang 363 mà Đức Thầy đã cho rể ông Võ-văn-Giỏi ở Bạc-liêu.

TU TƯỞNG

Khuyên niệm Phật than rằng chưa rảnh,
Lúc bắt hồn mắc việc cũng đi.

Chắp tay niệm Phật Di-Đà,
Lòng ta ta biết ai mà mặc ai.

Cuốn sổ bình sanh công với tội,
Chờ nơi thẩm phán sẽ cung khai.

Thất đức thì ma quỉ rối loàn,
Tu đức thì ma quỉ tiêu tan.

Phải rán tu đặng mà chết,
Chớ đừng để chết mà chẳng có tu.

Bạc-liêu, 22 tháng 10 Tân-Tỵ

VỌNG BẮC HÒA NAM

Lâm san rày đã rời ra,
Dạo trong lê-thứ vậy mà xét-soi.
Bàn với luận đặng coi chơn-lý,
Lậu cơ trời thiên-ý bày ra.
Thấy đời ta cũng thiết-tha,
Chiên-tranh ngoại-quốc hằng hà lụy rơi.
Bị danh-lợi xe lơi tình nghĩa,
Mới trranh-giành xoi xỉa cùng nhau.
Phơi thây mà chẳng núng-nao,
Tranh cùng với đoạt chừng nào mới thôi.
Hạ-nguơn lao khổ lắm ôi!
Tu sau mới được qua đồi chông gai.
Lo bổn-phận thảo ngay trọn vẹn,
Chừng lập đời không thẹn tấm thân.
Câu quân lý tứ ân chạm dạ,
Nếu chẳng gìn phải đọa đừng than.
Chừng nào tiếng sấm nổ vang,
Thất-sơn lộ vẻ đền vàng báu thay.
Chọn bến nước rủi may trong đục,
Nếu chần-chờ lục đục trễ chơn.
Yêu đời ta dạy làm ơn,
Lời ta khuyên nhủ như đờn Bá-Nha.
Trong bổn-đạo gần xa ghi nhớ,
Phải thi hành phận tớ cho xong.
Để sau đến việc long-đong,
Xác thân khó thấy Mây Rồng hội kia.
Chữ trung-tín chạm bia trước mộ,
Người phượng thờ đặng độ chúng-sanh.
Trả nợ thế nghĩa-ân trọn vẹn,
Cảnh non Bồng kỳ hẹn ngày kia.
Chúng ham làm chức nắc-nia,
Ngày sau như thể vô đìa quên nôm.
Nay nhằm lúc đêm hôm vắng-vẻ,
Muốn tu hành lặng-lẽ mà nghe.
Thử yên lặng để ve nó gáy,
Gáy ít điều rõ máy thiên-cơ.
Người khôn nghe nói ngẩn-ngơ,
Người ngu nghe nói mãi ngờ Khùng Điên.
Kẻ chẳng mến tình riêng hay ghét,
Ta tu hành hay mét làm chi.
Hổ thay cho bực tu-mi,
Thân mình chẳng vẹn vậy thì không lo.
Để đến việc dang lưng mà chịu,
Ai biết điều sớm liệu cho xong.
Miệng sự thế nhiều ông kiêu-hãnh,
Ta dạy đời chẳng rảnh mà tranh.
Gió đưa nhằm lúc đêm thanh,
Lời ta dạy-dỗ như nhành ghẹo chim.
Gắng công mài sắt nên kim,
Những câu huyền-bí rán tìm cho ra.
Viết ít câu ngâm-nga thời-thế,
Ta khuyên đời như kế Trương-Lương.
Tấm thân nào nại gió-sương,
Thương-yêu lê-thứ lo lường năm canh.
Nếu ai muốn luận-tranh đạo-đức,
Ta cho đời một bức thi ca.
Hết gần rồi lại nói xa,
Nói cho sanh chúng rõ mà người chi.
Dân với chúng còn nghi mãi mãi,
Đạo tu hành nói phải mà nghe.
Ngàn năm đạo-lý vắng hoe,
Bị ngươi Thần-Tú bày chè cùng xôi.
Kinh với sấm ngoài môi nó tụng,
Đao suy-tồi bại-lụn vì ai.
Đem nguồn chơn-lý bằng nay,
Ta thương dân chúng lạc-loài giống xưa.
Mặc ai ý ai ghét ưa, ưa ghét,
Định tâm thần xem xét thể nao.
Dạy đời chẳng nệ công lao,
Khuyên người danh-lợi chó rào làm chi.
Ngày sau đến việc sầu bi,
Thương đời ta mới làm thi khuyên đời.
Còn ẩn-nhẫn đợi thời chưa đến,
Nên phải làm kẻ mến người khinh.

Bạc-liêu, năm Tân-Tỵ

Ông PHAN-CHÂU-BÁ (Long-Xuyên) hỏi:

Tang bồng nợ ấy sao xong?
Chí dốc từ-bi cổi tấc lòng.
Nhơn đạo còn mang chưa xử trọn,
Nghĩ sao giải-thoát nợ tang bồng?

ĐỨC THẦY đáp lại:

Đành ràng nợ thế trả chưa xong,
Mà biết ăn năn sửa lấy lòng.
Niệm chữ Di-Đà tan chướng nghiệp,
Thuyền từ Thầy rước lại non Bồng.

Non Bồng Tiên Phật xót nhân-sinh,
Trí-huệ trau giồi khán kệ-kinh,
An phận hơn bề danh lợi tạm,
Tề gia trung hiếu vẹn thân mình.

Bạc-liêu, năm Tân-Tỵ

BÀI NGUYỆN TRƯỚC BÀN THỜ CỬU-HUYỀN

Đầu cúi lạy Cửu-Huyền Thất-Tổ,
Ngõ đáp ơn báo-bổ sanh thành.
Ngay con qui Phật tu hành,
Cửu-Huyền Thất-Tổ lòng lành chứng tri.
Lời Phật dạy từ-bi bác-ái,
Dạ nhơn-từ quảng đại mở-mang.
Hiếu-trung con giữ vẹn toàn,
Từ rày chẳng dám lăng-loàn như xưa.
Sau hưởng đặng phước thừa của Phật,
Hồn nhẹ-nhàng vượt khỏi tử-sanh.
Nguyện đem công quả tu hành,
Cứu trong tông-tổ vãng-sanh liên-dài.
Về Phật-quốc ngày ngày an lạc,
Cả giống-dòng giải-thoát luân-trầm.
Rồi đem đạo-pháp huyền-thâm,
Độ trong sanh-chúng hết lầm hết mê.
Cả vạn-vật đồng về Phật cảnh,
Chẳng luyến trần ảo-ảnh gạt lường.
Nguyệt cầu chư Phật mười phương,
Niết-Bàn tịch tịch là đường vô-sanh.

(Bài nầy Đức Thầy viết tại Bạcliêu lối cuối năm Tân-Tỵ, nhưng vì thấy nó hơi dài nên Đức Thấy viết bài khác chỉ có 12 câu cho anh em bổn-đạo học mau thuộc. Ấy là bài "Cúi kình dưng hương trước cửa-huyền")

NÉM CẤP-BẰNG

Lấy cái cấp-bằng ném xuống sông,
Thôi, thôi! tôi cũng mét-xì (1) ông.
Tuồng đời gẫm lại nơ quô rẻn (2).
Xăng phú ba manh (3) trở lại đồng!

Bạc-liêu, năm1941

(1) Merci
(2) Ne vaut rien.
(3) S'on f. . . pas mal,

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn