Chương I: Lược Sử Nam Tiến Và Khai Mở Miền Nam Việt Nam
Nhìn vào bản đồ Á Châu, thấy một nước Việt Nam nhỏ bé tại biên giới phía Nam một nước Trung Hoa lớn rộng, ta có thể cảm thấy được sức ép nặng nề và mạnh mẽ của một khổng lồ Bắc phương đè nén trên một tí hon phương Nam. Sức đề kháng và chiến đấu, dẻo dai và thường xuyên của dân tộc Việt Nam trong quá trình lịch sử, mang tính chất tự vệ và mục đích tự tồn đã giữ vững biên giới lãnh thổ phía Bắc vạch ra từ thời Hùng Vương lập quốc, và được củng cố, xác định sau cuộc chiến tranh giải phóng của Ngô Quyền, chấm dứt thời kỳ 1050 năm bị Trung Hoa đô hộ (938 A.C). Thực tế địa lý chính trị dường như không dành cho Việt Nam một khả năng nào để tiến về phương Bắc, ít nhứt là để phục hồi những vùng lãnh thổ mà Việt tộc đã khai phá từ thượng cổ thời đại. Có nhiều sử gia đã nói rằng: cương vực của nước Văn Lang (quốc hiệu Việt Nam thời lập quốc) phía Bắc giáp Ðộng Ðình Hồ (tỉnh Hồ Nam) phía Tây giáp Ba Thục (tỉnh Tứ Xuyên)...

Hy vọng phục hồi vùng lãnh thổ này về cho Việt Nam đã vĩnh viễn chấm dứt sau khi vị anh hùng dân tộc Quang Trung Nguyễn Huệ từ trần. Quang Trung Nguyễn Huệ tước hiệu Bắc Bình Vương là một ngôi sao sáng rực trong Việt sử sau chiến công oanh liệt chớp nhoáng đánh bại 200 ngàn quân Mãn Thanh (đời vua Càn Long, Trung Quốc) hoàn thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc năm 1789 (đồng thời với cuộc cách mạng tư sản dân quyền xảy ra tại Pháp). Vua Quang Trung đã biểu lộ ý định đòi lại hai tỉnh Quảng Ðông, Quảng Tây về lãnh thổ Việt Nam, nhưng đã không thực hiện được nguyện vọng lịch sử đó, vì vắn số, qua đời quá sớm (1792). Thời đại Quang Trung đánh dấu hai sự việc lịch sử quan trọng: Một là chấm dứt thời kỳ đô hộ sau cùng của đế quốc quân chủ Trung Hoa đối với Việt Nam, và hai là chấm dứt hy vọng phục hồi phần lãnh thổ cố hữu của Việt Nam là vùng Lưỡng Quảng Trung Quốc hiện giờ.

Vì không thể mở rộng khoảng sống về phía Bắc, mà cũng không thể phát triển lãnh thổ về phía Ðông là Thái Bình Dương và cũng chẳng thể khai phá về phía Tây vì bị dãy núi Trường Sơn chận đứng, cho nên sự mở mang bờ cõi về phía Nam của dân tộc Việt Nam cũng là một thực tế địa lý chính trị: Dân tộc Việt Nam đã bị sức mạnh xâm lấn của Bắc phương xô đẩy xuống phía Nam để tìm đất sống. Trong hoàn cảnh thế giới khép kín thời xưa, lẽ sinh tồn của các dân tộc nhỏ không được bảo vệ, cũng như tham vọng đất đai của các nước mạnh không bị ngăn chận bởi luật lệ của các định chế quốc tế hay khả năng can thiệp quốc tế như hiện nay.

Bước Nam tiến tìm đất sống của dân tộc Việt Nam đã tàm thực lãnh thổ Chiêm Thành, rồi Thủy Chân Lạp, và ngừng lại năm 1759 tại biên giới Cao Miên. Từ đó, bờ cõi quốc gia Việt Nam là một lãnh thổ trải dài từ ải Nam Quan giáp giới Trung Hoa đến mũi Cà Mau, và biên giới các nước Ai Lao và Cao Miên ngày nay. Công cuộc Nam tiến này đã kéo dài ba thế kỷ, nếu kể từ thời điểm khi Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên của Trạng Trình mà quyết định tiến vào Nam (1558) cho đến khi đã thực sự bình định được vùng đất Thủy Chân Lạp, sát nhập thành lãnh thổ Việt Nam, vào giữa thế kỷ thứ 19. Năm 1860, đời vua Tự Ðức thứ 13, kết thúc trận đánh sau cùng giữa triều Nguyễn và Cao Miên.

Người Việt Nam dường như ai cũng biết đến nhân vật Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Giới có học ngưỡng mộ văn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm qua tác phẩm trứ danh Bạch Vân thi tập. Trái lại, quảng đại quần chúng ham chuộng những điều tiên tri trong tác phẩm của ông, thường được gọi là Sấm Trạng Trình.

Một điều tiên tri của ông được ghi chép vào lịch sử Việt Nam là câu Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân , dịch nghĩa là: một dãy núi Hoành, muôn đời dung thân. Ðó là lời ông khuyên Nguyễn Hoàng khi ông này đến vấn kế trong lúc thất thế bị Trịnh Kiểm chèn ép và lấn áp quyền lực. Nguyễn Hoàng nghe theo lời khuyên đó, bỏ đất Bắc Hà, hướng vào Nam tìm đất mới, mở mang bờ cõi, và lập nên cơ nghiệp nhà Nguyễn từ đó kéo dài cho đến 1945 mới chấm dứt khi vị vua cuối cùng nhà Nguyễn là Hoàng đế Bảo Ðại thoái vị (25-8-1945).

Có phải lời tiên tri của Trạng Trình là một động lực tâm lý đã kích thích thêm khuynh hướng Nam tiến, đưa dẫn dân tộc Việt vào đến đất Thủy Chân Lạp để khai phá và biến đổi thành Nam Việt ngày nay chăng? Có một sự kiện rất đặc biệt, đó là mối liên hệ tinh thần và tâm linh giữa nhân vật Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và khối nông dân khoảng hai triệu người sống ở miền Tây Nam Việt, mang danh là khối tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo. Mối liên hệ đó thể hiện trong niềm tin của các tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo, tin rằng Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, vượt không gian và thời gian, là một biểu tượng tôn kính của họ, đã có liên hệ mật thiết đến họ, từ quá khứ và vẫn còn liên hệ đến tương lai của họ và của đất nước Việt Nam.

Cần mở dấu ngoặc ở đây để thêm rằng tôn giáo Cao Ðài cũng có mối liên hệ siêu hình và tư tưởng với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, cụ thể là ngay khi bước vào Thánh thất Cao Ðài, Tây Ninh, ta thấy có tượng của Trạng Trình tay cầm cuốn sách Sấm Bạch Vân.

Qua các tài liệu Phật Giáo Hòa Hảo, sự ra đời của tôn giáo này, bản thân vị giáo chủ, cũng được hiểu là có liên hệ với Trạng Trình, một mối liên hệ tín ngưỡng, mà nhà khảo cứu khó tìm được giải đáp hợp lý theo các định luật thuần khoa học. Khoa học dựa trên các sự kiện vật lý, nhưng trong địa hạt tín ngưỡng, có những sự kiện phi vật lý, cũng gọi là siêu hình, mà không thể dùng các định luật vật lý để giải thích. Bởi vì, trong vũ trụ, ngoài những định luật vật lý, còn những định luật huyền bí, nói theo ngôn ngữ tín ngưỡng là Lẽ Huyền Vi của Tạo Hóa.

Cho nên sự kiện Trạng Trình nêu ở trên, một mặt có thể giải thích như một sự kiện lịch sử rằng câu nói của ông là một động lực tâm lý thúc đẩy sức Nam tiến của dân tộc Việt, do đó mới có đất Nam Việt, và trên vùng đất đó, xuất hiện tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo, bốn thế kỷ sau đó. Phần siêu hình không thể giải thích, vì là một sự việc tín ngưỡng, mà nhà khảo cứu đương nhiên phải đối diện khi nghiên cứu về một tôn giáo. Tới nay, chưa có một khoa học gia nào giải thích thỏa đáng được sự kiện Chúa Jesus chết đi rồi sống lại, bởi vì tôn giáo tính không thể giải thích bằng khoa học vật lý. Cho nên nhà khảo cứu gượng ép giải thích mối liên hệ siêu hình giữa Phật Giáo Hòa Hảo và Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm là một điều mê tín , sẽ không giải thích được gì cả. Phê phán và kết luận về những sự kiện tín ngưỡng bất khả giải thích là phi lý, là phản khoa học, hoặc gượng ép dùng các dữ kiện vật lý để phân tích sự kiện tín ngưỡng siêu hình, thường không giúp cho nhà khảo cứu hiểu thấu đáo về một tôn giáo. Ðiển hình cho điều này, là một vài tác giả khi phân tích hiện tượng trị bịnh không dùng dược liệu của vị giáo chủ Phật Giáo Hòa Hảo, đã viết rằng những viên aspirin được kín đáo pha tan vào nước lạnh cho người bịnh uống, sự dứt bịnh đó là do thuốc aspirin chớ không có sự mầu nhiệm nào . Vì đứng trên lập trường thuần khoa học, thuần lý duy vật, tác giả không chấp nhận có sự kiện siêu hình, cho nên tác giả phải gượng ép dùng viên thuốc aspirin là một dữ kiện vật lý, để bảo vệ lập trường của mình. Nhưng chính đây lại là điều sai lầm, bởi vì tuy aspirin là một dược liệu khoa học, nhưng cũng chỉ có tác dụng giới hạn trị được một ít bịnh trong giới hạn tác dụng đặc thù của nó, chớ không thể trị hết tất cả các loại bịnh khác, như trường hợp Phật Thầy Tây An và Huỳnh Giáo Chủ đã dùng nước lạnh mà khắc phục được bịnh thời khí dịch tả, một cách hữu hiệu lạ thường.

Những điều trình bày trên đây lập luận cho một khảo hướng tổng hợp thay vì thuần lý khoa học, để nghiên cứu nhận xét về một tôn giáo. Tác giả của nhiều sách khảo cứu về miền Nam Việt Nam là Sơn Nam đã áp dụng khảo hướng tổng hợp này để nói về mối liên hệ giữa Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Ðài giáo. Trong sách Văn Minh Miệt Vườn , ông viết rằng: ÀÀHoành sơn nhất đái vạn đại dung thân, đồng bằng sông Cửu Long có lẽ là nơi trù phú nhứt bên kia dẫy núi Hoành Sơn . Ý nghĩ của tác giả là ý thức Hoành Sơn ngày xưa đã đưa đến kết quả Cửu Long ngày nay. Nói cách khác, cái xã hội đồng bằng sông Cửu Long đã thể hiện kết quả của ý chí Nam tiến qua bên kia dẫy Hoành Sơn, và mối liên hệ với Trạng Trình

Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa, chiếm Chiêm Thành, lập phủ Phú Yên năm 1611, phủ Diên Khánh năm 1653, và hoàn tất kế hoạch Chiêm Thành năm 1697 sau khi đã lập phủ Bình Thuận (gồm Phan Rang, Phan Rí) năm 1697.
Cũng trong thời kỳ này, một số dân miền Trung, vì chịu đựng quá nhiều đói khổ liên miên trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, Trịnh Nguyễn đánh nhau bảy lần trong vòng 45 năm (1627-1672), nên đã di cư vào miền Nam, cũng gọi là Ðàng Trong, để khai mở đất mới, làm ăn tại vùng Mỏ Xoài (Bà Rịa), Ðồng Nai (Biên Hòa).

1658 là năm đầu tiên chúa Nguyễn Phúc Tấn tức Chúa Hiền cử 3,000 quan binh vào đất Chân Lạp, do sự cầu cứu của hoàng tộc Cao Miên trong cuộc tranh chấp ngai vàng với Nặc Ông Chân. Nặc Ông Chân quy thuận và hứa binh vực người Việt sinh sống trên phần đất Thủy Chân Lạp.

Năm 1674, Nặc Ông Non bị Xiêm La uy hiếp, sang tị nạn tại Khánh Hóa, cầu cứu Chúa Nguyễn đem binh tiến vào chiếm đất Prey Kor (tức Sàigòn) và tiến thẳng lên Nam Vang, bảo vệ cho Nặc Ông Non lên ngôi vua.
Năm 1679, Chúa Nguyễn cho phép nhóm bại tướng lưu vong của nhà Minh từ Quảng Ðông chạy sang, là Dương Ngạn Ðịch, Hoàng Tiến, Trần Thượng Xuyên, với 3,000 quan binh và 50 chiến thuyền, được đến định cư khai khẩn đất Thủy Chân Lạp, tại vùng Ðông Phố (Gia Ðịnh) Lộc Dã (Biên Hòa) và Mỹ Tho (Ðịnh Tường).

Năm 1698, Chúa Nguyễn Phúc Chu giao cho tướng Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp, thiết lập bộ máy hành chánh tại các vùng đã khai mở, chia đất Ðông Phố ra làm dinh huyện Trấn Biên (Biên Hòa) và Phiên Trấn (Gia Ðịnh). Cũng vào thời này, có những đợt dân đông đảo từ tỉnh Quảng Bình được đưa vào vùng này để khai hoang lập nghiệp.
Năm 1707, một người Trung Hoa lưu vong tị nạn khác là Mạc Cửu đã sang lập nghiệp tại Hà Tiên từ 1680, trước đó nhờ Cao Miên che chở, nay thấy thế vua Miên yếu, nên đem dâng đất Hà Tiên (7 xã) lên Chúa Nguyễn. Hòn Phú Quốc cũng dâng nạp lần đó cho Việt Nam.

Năm 1731, Chúa Nguyễn Phúc Khoát nhận hai tỉnh Long Hồ (Longhor) và Mỹ Tho (Mesa), và trong tám năm sau đó, các tỉnh Long Xuyên, Châu Ðốc, Sa Ðéc, Kiên Giang, Cà Mau, Sóc Trăng, Trà Vinh lần lượt được sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam.

Năm 1759, vua Cao Miên là Nặc Tôn dâng phần đất biên cương cuối cùng là đất Tầm Phong Long, tức tỉnh An Giang, trong đó có dãy Thất Sơn quan trọng, mà suốt 100 năm từ 1658 đến 1759, từ lúc khởi đầu đụng chạm với triều Nguyễn, người Cao Miên đã cố thủ làm hậu cứ để nương vào địa thế hiểm trở mà trú ẩn và cũng để tiến binh phản công.

Ngoài ra, Nặc Tôn còn cắt thêm năm phủ trên đất Lục Chân Lạp dâng cho Mạc Thiên Tứ (từ Kampot đến Kompongsom) và Thiên Tứ lại dâng nạp Chúa Nguyễn. (Nhưng về sau, vua Tự Ðức đã giao hoàn năm phủ này lại cho vua Cao Miên - 1848).

Như thế, trong trọn một thế kỷ (1658-1759) cuộc Nam tiến của nhà Nguyễn trên đất Thủy Chân Lạp đã hoàn tất. Từ đó, lãnh thổ Việt Nam có thêm miền Nam Việt ngày nay.
Một điểm đặc biệt cần ghi nhận, là trong suốt gần 100 năm nhà Nguyễn bận rộn với công cuộc Nam tiến mở đất Thủy Chân Lạp, thì Chúa Trịnh tức quyền lực ở miền Bắc sông Gianh đã không mở cuộc tấn công nào đánh nhà Nguyễn trong Nam, từ 1672 đến 1774. Chiến tranh Trịnh Nguyễn tái phát sau khi Tây Sơn đã khởi nghĩa (1771), và diễn ra trong thời gian ngắn ngủi, rồi chấm dứt. Chúa Nguyễn đã nhờ được yên suốt thời kỳ đó để hoàn thành công cuộc tàm thực đất Thủy Chân Lạp.

Tuy rằng đã chiếm được đất Thủy Chân Lạp, nhưng vùng đất mới khai mở này còn phải chịu đựng 100 năm loạn lạc nhiễu nhương. Chiến tranh với Xiêm La, giữa Tây Sơn và nhà Nguyễn, lại thêm những phong trào nổi loạn của người Cao Miên chống lại triều Nguyễn (Lâm Sâm, Sãi Kế...)
Thành Gia Ðịnh bị quân Tây Sơn chiếm ba lần, vua Gia Long ba lần bỏ thành mà chạy, cho mãi đến năm 1788, Gia Long mới thâu phục lại được toàn bộ miền Nam, từ Gia Ðịnh trở vào. Và cho đến 1802, Gia Long chiếm lại thành Trấn Ninh rồi tiến thẳng ra Bắc, lấy thành Thăng Long, chấm dứt thời đại Tây Sơn, một thời đại tuy ngắn ngủi có 14 năm (1788-1802), nhưng ghi một chiến công lẫy lừng lịch sử là đại thắng quân Mãn Thanh, chấm dứt tham vọng xâm lược của Trung Hoa.

Sau đó, triều đại Gia Long còn phải tiếp tục đối phó với Xiêm La. Nước này rình rập cơ hội, mượn cớ có sự cầu cứu của vua xứ Cao Miên mà kéo quân sang đánh chiếm lại vùng đất Thủy Chân Lạp. Sau loạn Lê Văn Khôi (1833), vua Xiêm La cử năm đạo binh sang uy hiếp các vùng biên giới Hà Tiên, Châu Ðốc, Cam Lộ, Cam Cát, Trấn Ninh, nhưng bị tướng Trương Minh Giảng đánh bại, mặc dù họ đã tiến sâu vào nội địa miền Nam, tới vùng Vàm Nao, Chợ Thủ tỉnh An Giang.
Năm 1842, quân Xiêm La lại kéo sang khi nghe tướng Trương Minh Giảng từ trần (đời Thiệu Trị), chiếm vùng đất Thất Sơn, nhưng bị tướng Nguyễn Công Trứ đánh bại.
Năm 1845, Cao Miên lại kéo quân tấn công vùng kinh Vĩnh Tế, nhưng bị tướng Nguyễn Tri Phương đánh tan và thừa thắng đánh rốc lên tận Nam Vang. Vua Cao Miên xin tạ tội và triều cống. Vua Thiệu Trị phong Nặc Ông Ðôn làm Cao Miên Quốc vương và Công chúa Mỹ Lâm làm Cao Miên Quận chúa (1847).
Năm 1860 có thể được xem là trận đánh sau cùng của Cao Miên tấn công vào Việt Nam, tại vùng Hà Tiên, An Giang, Thất Sơn nhưng bị đẩy lui.
Cuộc Nam tiến và bình định tới thời điểm này được xem là đã chấm dứt, miền Nam Việt Nam tiếp tục công trình khẩn hoang nông nghiệp trên vùng đất mới

VIỆT NAM, MỘT TRƯỜNG HỢP ÐẶC BIỆT

Bài viết sau đây là một nhận xét của học giả L.A. Williams trong cuộc nghiên cứu khảo sát lịch sử các dân tộc vùng Ðông Nam Á. Tác giả cho rằng Việt Nam là một trường hợp đặc biệt, bởi vì dân tộc Việt có tinh thần ái quốc cao độ nhứt Ðông Nam Á nên mới tồn tại và mở rộng biên cương được như ngày nay.

Nền văn minh Trung hoa phát triển từ ven sông Hoàng Hà phía Bắc đã theo thời gian mà lan dần xuống phía Nam. Các dân tộc không phải người Trung Hoa sống trên các vùng đất mà văn minh Trung Hoa tràn tới xâm chiếm, đương nhiên phải chọn một trong hai giải pháp: hoặc chấp nhận bị đồng hóa, hoặc bỏ đất mà tiến xa về phương Nam.

Phía Nam dòng sông Dương Tử có một dân tộc mà người Tàu gọi là dòng Việt tộc. Trong khi các chủng tộc sống ở miền Bắc sông Dương Tử đã bị Trung Hoa đồng hóa và nuốt trọn từ thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, thì chủng tộc sống ở miền Nam sông Dương Tử đã không để bị tiêu diệt bởi sức xâm chiếm của Trung Hoa. Do đó, khi triều đại Trung Hoa đầu tiên sụp đổ vào cuối thế kỷ thứ ba trước Tây lịch, có một dân tộc tự mệnh danh là Nam Việt đã thiết lập một vương quốc ở phương Nam, mà người Tầu gọi là Nam Yueh (Nam Việt) và sau này trở thành dân tộc Việt Nam.
Sau khoảng 100 năm độc lập, vương quốc này bị nhà Hán xâm chiếm, đô hộ cho tới năm 939 sau Tây lịch. Trong thời kỳ gần 1,000 năm Nam Việt mất chủ quyền, người Tầu đặt ra cái tên An Nam, có nghĩa là Miền Nam đã an bài ngụ ý là đã được Trung Hoa khống chế bằng sức mạnh quân sự.

Một ngàn năm đô hộ là thời lượng rất dài, dư đủ để Trung Hoa nuốt trọn Việt Nam qua phương thức đồng hóa. Nhưng dân tộc Việt đã đề kháng chánh sách đồng hóa đó. Học và viết chữ Tàu được tầng lớp trí thức Việt chấp nhận, Khổng giáo và Phật giáo đại thừa du nhập vào xã hội Việt Nam, hệ thống cai trị với nhân sự được sắp đặt điều khiển bởi Trung Hoa, đó là các khí giới đồng hóa đã từng diệt chủng nhiều dân tộc rồi.
Suy luận từ tiền lệ đó, rất khó mà tin rằng dân tộc Việt Nam lại có thể tự tồn qua 1,000 năm Tầu đô hộ.

Chìa khóa của bí quyết chống đồng hóa của dân tộc Việt Nam có lẽ nằm sâu vĩnh viễn trong lịch sử bất thành văn của làng xã Việt Nam. Cho nên chỉ có thể hiểu một cách tổng quát mà không thể phân tích khúc chiết bằng dữ kiện. Sự giải thích hữu lý và duy nhất là tinh thần bất khuất tự tồn của dân tộc Việt dùng để đối phó sức mạnh quân sự và văn hóa của Trung Hoa.

Người Việt vẫn sử dụng ngôn ngữ Việt suốt một ngàn năm Bắc thuộc, đó là sự biểu hiệu rõ ràng của bản năng tự tồn. Tuy có mượn hàng ngàn chữ viết của Tàu, nhưng vẫn không đánh mất nền tảng văn hóa và ngôn ngữ Việt. Thế giới ngày nay đã tìm hiểu khá nhiều về ái quốc tính qua ngôn ngữ, cho nên phải nhận thức rằng dân tộc Nam Việt đã chứng tỏ một ý chí mạnh mẽ, nhiệt thành bảo vệ ngôn ngữ của họ.


Văn hóa dân gian thể hiện qua các thần thoại và phong tục làng xã, chính là nền tảng tự tồn Việt tính; do đó, không có gì đáng ngạc nhiên về trạng huống các quan cai trị người Tầu và người Việt, tức là những sứ giả của chánh sách đồng hóa, đều bị dân làng xa lánh. Tinh thần đề kháng ngoại xâm là động lực kích thích ý chí độc lập quốc gia. Sau 10 thế kỷ bị Tầu đô hộ, dân tộc Việt Nam đứng lên với truyền thống hào hùng chiến đấu dũng cảm, có thể được xem là một dân tộc có tinh thần ái quốc cao độ nhứt Ðông Nam Á.

Ngoài ra, còn có thể nói rằng tinh thần tự chủ được bảo tồn trọn vẹn bởi giai tầng dân chúng Việt ở nông thôn làng xã, thì sức mạnh căn bản trong cuộc chiến đấu chống xâm lược Trung Hoa chính là những đội binh nông dân đi tiên phong trong cuộc chiến giải phóng quốc gia , nói theo ngôn ngữ Mao Trạch Ðông sau này.

Tất cả những mưu đồ xâm lược Việt Nam của Trung Hoa từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 19, đều phải thất bại. Quân Mông Cổ kéo đại hùng binh sang xâm chiếm Việt Nam, rồi đến triều đại nhà Minh, nhà Thanh, ở thế kỷ 17, 18 tất cả đã bị dân tộc Việt đánh cho đại bại.

Cho nên phải nói rằng sự kiện hào hùng sáng chói lâu dài trong Việt sử, chính là cuộc chiến đấu chống xâm lược Trung Hoa của dân tộc Việt Nam để tự tồn tự chủ.


Từ bước đầu lập quốc cho đến lúc xác định biên giới hiện nay của đơn vị Quốc gia Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, dòng Việt sử ghi chép những trang đau thương đen tối của các thời kỳ bị ngoại thuộc, nhưng lại sáng rực lên một cách huy hoàng với những trang sử hào hùng chói lọi, thể hiện đức tính đặc biệt của một dân tộc có ý chí bền bỉ dẻo dai, có khả năng đồng hóa phi thường, có tinh thần quật cường bất khuất để tự tồn và mở mang bờ cõi.

Nhưng từ thế kỷ 19, khi các đế quốc Tây phương đi chiếm thuộc địa tại khu vực Á châu, dòng lịch sử Việt Nam đi vào một khúc quanh mới: Nước Pháp đem quân đội viễn chinh với võ khí tối tân thời đó, khởi sự cuộc xâm lược Việt Nam.
Từ đây, Việt Nam bước vào kỷ nguyên tiếp xúc với Tây phương. Và trong kỷ nguyên này, xuất hiện tông phái Bửu Sơn Kỳ Hương từ miền tân địa Nam Việt, tiền thân của tổ chức Phật Giáo Hòa Hảo sẽ được trình bày trong cuốn sách này.
Gửi mail cho bạn bè
Tên *
Gửi từ *
Gửi đến *
Tiêu đề *
Nội dung  *
Nhập vào ô bên dưới
*

 

Mục lục
Skip Navigation Links.
Vài Nét Về Tác Giả - Nguyễn Long Thành Nam
Collapse PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ  PHẦN I: BỐI CẢNH LỊCH SỬ
Chương I: Lược Sử Nam Tiến Và Khai Mở Miền Nam Việt Nam
Collapse Chương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc VnChương 2: Pháp Xâm Lược Và Cuộc Kháng Chiến Của Dân Tộc Vn
1 - Phong Trào Văn Thân Cần Vương Kháng Pháp
2- Cách Mạng Chuyển Hướng Canh Tân
3- Cách mạng Với Ý Thức Dân Tộc Dân Chủ
4- Hai Khuynh Hướng Quốc Gia Và Quốc Tế
5- Nhận Xét Về Ưu Thế Của Cộng Sản Tại Việt Nam
Collapse Chương 3: Xã Hội Việt Nam Dưới Thời Pháp ThuộcChương 3: Xã Hội Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc
1- Xã Hội Việt Nam Trước Khi Pháp Đến
2- Ảnh Hưởng của Chánh Sách Thuộc Địa
3- Những thay Đổi Trong Sinh Hoạt Kinh Tế
4-Chánh Sách Phân Phối Ruộng Đất của Pháp
5- Đời Sống Tối Tăm của Giới Tá Điền
6- Nạn Trung Gian Cặp Rằng Bao Tá
Collapse PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG PHẦN II BỬU SƠN KỲ HƯƠNG
Collapse Chương 4: Sự Xuất Hiện Của Bửu Sơn Kỳ HươngChương 4: Sự Xuất Hiện Của Bửu Sơn Kỳ Hương
1- Tình trạng Tín Ngưỡng tại Việt Nam ở Thế Kỷ 19
2- Mối Liên Hệ Giữa Đạo Pháp và Dân Tộc
3- Lịch Sử Truyền Bá Bữu Sơn Kỳ Hương
4- Đức Phật thầy Tây An và Các Vị Kế Truyền
5- Các Đại Đệ Tử của Bữu Sơn Kỳ Hương
Collapse Chương 5: Một Số Ðặc Ðiểm Của Bửu Sơn Kỳ HươngChương 5: Một Số Ðặc Ðiểm Của Bửu Sơn Kỳ Hương
1- Lợi Sanh Nhi Hoằng Pháp
2- Tu Có Vợ Chồng- Cạo Tóc Không Cạo Râu
3- Dân Hai Huyện và Bữu Sơn Kỳ Hương
4- Vấn Đề Người Tàu Trấn Ếm Thất Sơn
Collapse Chương 6: Ảnh Hưởng Bửu Sơn Kỳ Hương: Lòng Ái QuốcChương 6: Ảnh Hưởng Bửu Sơn Kỳ Hương: Lòng Ái Quốc
1- Cố Quản Trần Văn Thành: Chiền Khu Bảy Thưa
2- Đức Bổn Sư Ngô Lợi: Làng Kháng Chiến An Định
3- Anh Hùng Nguyễn Trung Trực
Collapse PHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢOPHẦN III : PHẬT GIÁO HÒA HẢO
Collapse CHƯƠNG 7: Phật Giáo Hòa Hảo Xuất HiệnCHƯƠNG 7: Phật Giáo Hòa Hảo Xuất Hiện
1-Bối Cảnh Lịch Sử Xã Hội
2- Đức Huỳnh Giáo Chủ
3- Bốn Lần Đăng Sơn
4-Trị Bệnh Và Giảng Đạo
5- Giảng Đạo và Sáng Tác Kinh Giảng
6- Phản Ứng Quần Chúng
7- Phản Ứng của Người Pháp
8- Cuộc Vượt Thoát Từ Bạc Liêu Lên Sài Gòn
9- Sau Khi Thoát Khỏi Sự Kềm Kẹp Của Pháp
Collapse CHƯƠNG 8: TƯ TƯỞNG ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦCHƯƠNG 8: TƯ TƯỞNG ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ
1- Đưa Tư tưởng vào Hành Động
2- Vấn Đề Vận Dụng Quần Chúng Nông Thôn
3- Quan Điểm Quần Chúng Của Huỳnh Giáo Chủ
5- Tư Tưởng
4- Phương Pháp: Bạo Động, Cứu Đô, Ý Thức
6- Tư Tưởng Nho Giáo Trong Phật Giáo Hòa Hảo
7- Tinh Thần Lão Trang Trong Phật Giáo Hòa Hảo
8- Vị Trí Phật Đạo Trong Phật Giáo Hòa Hảo
9- Giới Luật Trong Phật Giáo Hòa Hảo
10- Bản Sắc Dân Tộc Trong Phật Giáo Hòa Hảo
11- Cải Tiến Phương Pháp Hành Đạo
12- Bài Trừ Mê Tín Dị Đoan, Bỏ Nghi Lễ Phiền Toái,Giản dị Hóa Nghi Thức Thời Thượng, Không Cất Chùa Đúc Tượng
13- Hôn Nhân
14- Hướng Giáo Lý Vào Thái Độ Nhập Thể
15- Hướng Tinh Thần Từ Bi Bác Ái Vào Cải Tiến Xả Hội
16- Hướng Đức Dũng Vào Tình Yêu Đất Nước
17- Những Khiá Cạnh Văn Hoá
18- Huỳnh Giáo Chủ Và Ý Thức Manh Liệt về Thống Nhất Việt Nam
19- Vũ Trụ Quan, Nhân Sinh Quan Phật Giáo Hòa Hảo
20- Thuyết Tam Ngươn và Hội Long Hoa
21- Học Thuật Tu Nhân
22- Học Phật Tu Nhân và Thuyết Tứ Ân
23- Công Thức Phật Giáo Hòa Hảo: Ba Bước Hành Đạo
Collapse PHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁNH MẠNGPHẦN IV : PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ CÁNH MẠNG
Collapse CHƯƠNG 9: PHONG TRÀO BẢO AN CHUẨN BỊ ĐẤU TRANHCHƯƠNG 9: PHONG TRÀO BẢO AN CHUẨN BỊ ĐẤU TRANH
1-Truyền Thống Nghĩa Binh
2-Phật Giáo Hòa Hảo
3-Đội Bảo An
4-Từ Tầm vông Vạt Nhọn Đến Súng Ống
5-Một Chút Lịch Sử Về Bộ Đội An Điền
Collapse CHƯƠNG 10: SƠ LƯỢC DIỄN TIẾN ĐẤU TRANH TẠI MIỀN NAM VIỆT NAMCHƯƠNG 10: SƠ LƯỢC DIỄN TIẾN ĐẤU TRANH TẠI MIỀN NAM VIỆT NAM
1- Diển Tiến Thời Cuộc
2- Việt Minh Cộng Sản Sát Hại Các Kảnh Tụ Quốc Gia
3- Phong Trào Truy Lùng Và Xử Án Việt Gian
4- Đây Là Thông Cáo Chánh Phủ Lâm Thời
5- Cuộc Biểu Tình Cần Thơ 8 – 9 – 1945 Để Làm Gì
6- Cuộc Vượt Thoát Vòng Vây Đường Michen
7- Nam Kỳ Quốc
8- Việt Nam Dân Chủ Xả Hội Đảng Đóng Góp Vào Việc Phà Vở Nam Kỳ Quồc
9- Cộng Sản Kháng Chến, Chỉ Giành Quyền
10- Nguyễn Bình Và Mặt Trận Quốc Gia Liên Hiệp
11- Thế Kẹt Lịch Sử Và Chiến Thuật Gỡ Kẹt
12- Những Mẩu Chuyện Trong Chiền Khu
13- Việt Nam Dân Chủ Xã Hôi Đảng
14- Quá Trình Hoạt Động Việt Nam Dân Chủ Xã Hôi Đảng
15- Sau Khi Huỳnh Thủ Lảnh Ra Đi
16- Một Bản Tổng Kết Đau Thương Nhưng Oai Hùng
17- Vài Đặc Điểm Về Việt Nam Dân Chủ Xã Hội Đảng
18- Thành Lập Đảng Việt Nam Dân Chủ Xã Hội
19- Dân Chủ Xã Hội Trong Xã Hội Nông Nghiệp
20- Vấn Đề Nông Dân Trong Xã Hội Á Châu
21- Không Thể Rập Khuôn Tư Tưởng Trây Phương Vào Xả Hôi Đông Phương
Collapse PHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐIPHẦN V: SAU KHI ĐỨC HUỲNH GIÁO CHỦ RA ĐI
Collapse CHƯƠNG 11: GIAI ĐOẠN QUÂN SỰ HOÁCHƯƠNG 11: GIAI ĐOẠN QUÂN SỰ HOÁ
1- Giai Đoạn Quân Sự Hóa 1947-1955
2- Diễn Tiến Biến Cố 16-4-1947
3- Huấn Lịnh Gởi Các Cấp Hành Chánh, Quân Đội, công An 1
4- Thế Kẹt Lưỡng Đầu Thọ Địch: Pháp Và Cộng Sản
5- Thái Độ Chánh Phủ Cộng Hòa Nam Kỳ
6- Thế Kẹt Không Có Giải Pháp Vẹn Toàn
7- Hiệp Định Liên Quân Pháp - Hòa Hảo Ra Đời
8- Lược Dịch Bản Hiệp Định Liên Quân Pháp Hòa Hảo
9- Chánh Sách Chia Rẽ Của Pháp
10- Tách Phật Giáo Hòa Hảo Ra Khỏi Dân Xã
11- Pháp Chia Khối Quân Sự Thành Nhiều Nhóm
12- Phản Ứng Của Phật Giáo Hòa Hảo Và Dân Xã Đảng
Collapse CHƯƠNG 12: TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN QUÂN SỰ HOÁCHƯƠNG 12: TỔNG KẾT GIAI ĐOẠN QUÂN SỰ HOÁ
1- Thành Quả Giành Đất Giữ Dân
2- Chiến Đấu Trong Điều Kiện Thiếu Thốn
3- Tài Liệu Phụ Lục
4- Một Vụ Thách Đấu Gươm Năm 1947 Giữa Một Tín Đồ Phật Giáo Hòa Hảo Và Một Ký Giả
5- Vấn Đề Ăn Thịt Người
CHƯƠNG 13: VẤN ĐỀ SÁT NHẬP QUÂN LỰC PGHH VÀO QUÂN ĐỘI QUỐC GIA VIỆT NAM
Collapse PHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHHPHẦN VI: CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM ĐỐI VỚI PGHH
CHƯƠNG 14: PGHH DƯỚI CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CÔNG HOÀ 1956-1963
CHƯƠNG 15: PGHH DƯỚI CHẾ ĐỘ ĐỆ NHỊ CỘNG HOÀ
CHƯƠNG 16: PGHH DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN TỪ 1975
Collapse PHỤ LỤC IPHỤ LỤC I
1- Tài liệu Lê Quang Vinh
2- Con Người Lê Quang Vinh dưới lăng kính phân tích xã hội
Collapse PHỤ LỤC IIPHỤ LỤC II
1- Vài suy nghĩ về Phật Giáo Hòa Hảo, Kim Định
2- Đức Huỳnh Giáo Chủ như là một triết gia Việt Nam, Phạm Công Thiện
3- Huỳnh Phú sổ và chúng ta, Lý Khôi Việt
4- Cuộc Cách Mạng của Đức Thầy, Phạm Nam Sách
5- Nhận thức PGHH, Trần Nguyên Bình
6- PGHH và Việt Nam Dân chủ Xã Hội Đảng trong lịch trình đấu tranh của dân tộc Việt, Hà Thế Ruyệt
7- PGHH như một vân động dân tộc, PGHH và chủ trương chấn hưng xã hội, Phạm Cao Dương
8- Việt Tình và Việt Tính trong hành động và tư tưởng Huỳnh Giáo Chủ, Cao Thế Dung
9- Giáo phái Miền Nam qua lăng kính xã hội học, Nguyễn Văn Trần
10- Sự đóng góp của Huỳnh Giáo chủvà PGHH vào công cuộc Cứu nước và Dựng nước, Trịnh Đình Thắng
11- PGHH và Dân Xã đảng trong dòng lịch sử của Phật giáo và dân tộc Việt Nam, Trần Ngọc Ninh
12- Kỷ niệm và cảm tưởng về PGHH, Lưu Trung Khảo
13- Vì sao tôi gia nhập đạo PGHH, Donald Malien